mở đầu với những truyện ngắn như Người chăn kiến, Một ngày dài đằng đẵng. Bùi Ngọc Tấn đã cho bạn đọc làm quen với kiểu nhân vật mới. Ông vén những tấm màn, để người đọc bước những bước chân đầu tiên vào với một thế giới khác, khơi gợi sự cảm nhận, triển khai một lối tư duy truyện ngắn riêng. Ông muốn cho người đọc làm quen, “tập dợt” với một lối văn phong hoàn toàn mới, trước khi trình làng những cuốn tiểu thuyết mà ông tâm đắc.
Có lẽ đó là một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Và khi độc giả đã dần làm quen với một giọng điệu, một thế giới nhân vật mới, ông bắt đầu cho ra mắt tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 năm 1991 – một tác phẩm đầy tâm huyết trong cả đời viết văn của ông. Tác phẩm được viết với một tốc độ nhanh đến chóng 17 mặt, chỉ vỏn vẹn trong vòng một năm, với hơn năm trăm trang giấy. Một tiểu thuyết được viết công phu, dồn nén hết tất cả những thông điệp nghệ thuật mà ông muốn gửi gắm đến cuộc đời, con người.
Nhưng mọi việc không như mong muốn, tác phẩm chỉ vừa in ấn, chưa kịp phát hành tới tay độc giả thì đã có lệnh cấm, phải đem đi tiêu hủy. Hụt hẫng với đứa con tinh thần đầy tâm huyết, nhưng không vì thế mà ông nản lòng. Kí ức và những trải nghiệm xương máu vẫn nung nấu, ấp ủ và luôn thôi thúc ông cầm bút. Ông từng nói “nó như một khối u, nếu không được chạm đến sẽ gây ung thư mất…”.
Chuyện kể năm 2000 là cuốn tiểu thuyết viết về cuộc đời của anh tù không án Nguyễn Văn Tuấn, thấp thoáng dáng dấp của nhà văn những năm bị bắt đi cải tạo. Ông viết về nhân vật “hắn” mang số hiệu CR880 như muốn chia sẻ, muốn gửi gắm nỗi lòng, những đớn đau mà nhân vật đã trải qua. Còn Biển và chim bói cá, một tiểu thuyết “ngồn ngộn” những chi tiết, hàng nghìn sự kiện xoay quanh khoảng hai mươi nhân vật của một liên hiệp đánh cá đang trong thời kì tan rã. Tác phẩm là những xâu chuỗi trong hai mươi năm làm nhân viên đánh cá của tác giả ở Liên hiệp đánh cá Hạ Long.
Khi được hỏi về “Bối cảnh và tâm trạng khi viết Biển và chim bói cá”, nhà văn bùi ngùi: “Tôi đã làm một nhân viên ở một xí nghiệp đánh cá quốc doanh hai mươi năm. Là một thành viên, một tế bào của cái cơ thể phập phồng hơi thở có một đối tượng lao động là biển cả này, tôi vui niềm vui của những ngày biển lặng gió êm, những chuyến biển tàu về đầy ắp cá; tôi lo lắng cho những người bạn của tôi đang chịu gió mùa, tránh bão, tôi chia sẻ nỗi buồn với những thủy thủ khi những chuyến biển bị gẫy… Và tôi hiểu những khó khăn của thời ấy về phụ tùng thay thế, về dầu đốt, về thiếu am mô ni ác chạy máy lạnh, về mỗi khi Sở “điên nặng” cúp điện… Tôi cũng đã nhiều lần đi biển. Reo hò khi đụt cá căng phồng ào ào trút nước xuống boong, lo lắng nhìn đụt lép kẹp vừa lôi lên sàn dốc. Chọn tôm, nhặt cá, luộc tôm tít ăn khuya cùng các thuyền viên.
Tôi yêu họ, tôi yêu biển”. Ông luôn trăn trở rằng mình “mắc nợ biển” “mắc nợ” những con người đã từng làm việc trên biển, từng đồng cam cộng khổ cùng ông. Ông vốn là một nhân viên thi đua làm trên bờ, nhưng ông vẫn tận dụng mọi cơ hội đi biển và chăm chỉ ghi chép. Khi viết Biển và chim bói cá, ông “cố diễn đạt được cuộc chuyển mình trong tư tưởng, trong quan hệ giữa người với người, giữa người với biển, một cuộc vật lộn gian khổ và đau đớn”.
18 So với “người anh em” Chuyện kể năm 2000, được viết trong vòng một năm, Biển và chim bói cá được viết ròng rã trong ba năm, với nhiều lần chỉnh sửa, viết đi viết lại, suy ngẫm và chọn lọc. Một khoảng thời gian khá dài, đủ để nhà văn xây dựng cho tác phẩm một thế giới nghệ thuật ngôn từ hoàn chỉnh, với những thông điệp nghệ thuật đầy tính nhân văn sâu sắc. Trong bài phỏng vấn nhà văn, của Evăn vào năm 2006, khi ông chuẩn bị bước vào tuổi 73. Ông đã nói về sự ấp ủ viết một cuốn tiểu thuyết về những người làm nghề chài lưới.
“Cuốn sách này tôi dự định viết khoảng năm trăm trang, và nếu trời thương cho sống, thì đến 2007 sẽ hoàn thành. Bây giờ, việc mình mình làm, đã làm xong. Có vội vàng gì đâu”. Ông muốn “viết thật kỹ dành tặng cho những người dân chài biển thô sơ, sống hồn nhiên, lam lũ, phóng khoáng”.
Ông dự định đặt tên tác phẩm là “Nơi không có chân trời”. Đúng là một nơi “không có chân trời” chỉ có biển cả bao la, trên là bầu trời, dưới là đại dương, với những con người đang vật lộn ngày đêm, kiếm miếng cơm manh áo, sống chết với biển cả. Không giống như các tác phẩm trước, Biển và chim bói cá là quyển tiểu thuyết duy nhất được in và phát hành suôn sẻ, được tái bản và được các báo đưa tin. Tác phẩm được đọc trên đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, được dịch ra tiếng Pháp, xuất bản tại Pháp.
Và vinh dự hơn, tiểu thuyết còn nhận được giải thưởng Henri Queffelec tại Festival Sách và biển tại Pháp năm 2012. Tác phẩm đã vượt qua năm tác phẩm viết về biển của các nhà văn chuyên nghiệp Canada, Bỉ, Pháp. Festival Sách và biển là một sự kiện được tổ chức hàng năm tại Pháp. Giải thưởng mang tên Henri Queffelec, một nhà văn được coi là người viết về biển bằng tiếng Pháp hay nhất thế kỉ XX, và là người sáng lập giải.
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn là người đầu tiên, sau hai mươi chín năm đã đưa giải thưởng ra khỏi Châu Âu. Một vinh dự thật lớn lao. Vị trí của truyện ngắn và tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Bùi Ngọc Tấn: Bùi Ngọc Tấn chính thức trở lại với nghiệp viết vào năm 1991, trình làng cuốn hồi ký Một thời để mất. Cuốn hồi ký ghi lại chân thực những hồi ức về nhà văn Nguyên Hồng.
Tác phẩm viết về những câu chuyện có thật, nhưng không đi vào kể lể, mà với cách viết hết sức tự nhiên, thủ thỉ, tâm tình. Như chính ông đang viết về những gì là máu thịt nơi ông. 19 Ông viết về Nguyên Hồng với những câu chuyện bình dị, đời thường, những chuyện thật hơn cả sự thật. Với Một thời để mất, Bùi Ngọc Tấn đã cho người đọc hiểu thêm về nhà văn Bỉ Vỏ ở một khía cạnh đời thường, mộc mạc, bình dị.
Ông từng băn khoăn, “sao người ta viết hồi ký, lại thường viết về những nhân vật nổi tiếng, những câu chuyện hay, lý tưởng, đầy chất thơ”. Ít ai đề cập đến những con người bình thường, những khía cạnh thấp hèn nơi con người. Bùi Ngọc Tấn lại hoàn toàn khác, với ông, ông chỉ muốn viết chân thực nhất, chỉ có thể cầm bút “chụp” lại những hồi ức về những người bạn, những kỉ niệm mà đối với ông nó lớn lao hơn tất cả. Những mẩu chuyện đời thường, những điều tưởng chừng như đơn giản nhất, dễ làm cho ta quên, không thể lưu giữ, thì với ông nó lại là cả một “mảnh hồn trái tim”, không thể cắt bỏ.
Ông viết về Nguyên Hồng, không phải ở khía cạnh một nhà văn lớn của Việt Nam, một tác giả Bỉ Vỏ tên tuổi thời ấy. Mà viết về một Nguyên Hồng, người con của đất Hải Phòng quê ông, Nguyên Hồng của những khó khăn, Nguyên Hồng của những góc khuất, Nguyên Hồng của cái bình dị, đời thường nhất, và hơn hết là Nguyên Hồng – một con người cũng phải sống cuộc đời “bình thường”, cũng phải trải qua bao khó khăn đến cùng kiệt như bao người. Cùng với Một thời để mất, hồi ký Rừng xưa xanh lá, nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2004, cũng là một tác phẩm làm cho người đọc sống dậy những kí ức của một thời đã qua. Để cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu hơn về cha ông, về một thời đã từng sống và viết như thế.
Là những hồi ức xoay quanh những người bạn của ông. Những người đã từng lớn lên, từng học tập, từng viết và từng trải qua những ngày tháng khó khăn nhất trong cuộc đời ông. Họ là một phần xương máu trong ông, ông không thể sống mà không có những kí ức, về một thời gian khổ nhưng đầy ắp tình người. Về những người bạn âm thầm “bán máu chỉ để đãi bạn một bữa bún chả ra trò”, về những câu chuyện cảm động như “đốt quyển sách trước mộ bạn, cho bạn yên lòng, vì chưa kịp thực hiện lời hứa, bạn đã vội ra đi”.
Nếu hồi ký giúp ông ghi lại một cách chân thực những năm tháng ngọt bùi, cay đắng cùng bạn bè thì truyện ngắn và tiểu thuyết lại góp thêm một tiếng nói khác, quyện vào dàn hòa thanh của Bùi Ngọc Tấn. Truyện ngắn, tiểu thuyết giúp ông có thể chuyển tải được một cách bao quát, toàn diện về hiện thực cuộc sống. Có thể “tự do” hơn trong việc sáng tạo, hư cấu và gửi gắm những thông điệp nghệ thuật. Khi được hỏi về thể loại mà ông tâm đắc nhất trong số các thể loại ông đã viết.
Nhà văn cho rằng, ở mỗi thể tài đều có một thế mạnh riêng, ông đều yêu thương và trân trọng tất cả những đứa con tinh thần của mình. Giống như 20 nhà văn Shê Khôp đã từng nói đại ý, “Nhà văn như một người mẹ, các tác phẩm là những đứa con. Người mẹ nào cũng luôn yêu thương tất cả những đứa con của mình, đứa nào cũng thương. Chúng như năm ngón tay trên một bàn tay, nếu thiếu bất kì ngón nào, bàn tay sẽ mất đi sự hoàn hảo vốn có của nó”.
Và với Bùi Ngọc Tấn, những đứa con tinh thần của ông, ở mỗi đứa đều có một vẻ riêng, sẽ có đứa “nhỉnh” hơn, nhưng đứa nào ông cũng yêu thương, trân trọng. “Đứa con tinh thần hồi ký” là đứa con đầu lòng, là “người con” mà ông đặt vào nó những chia sẻ, tâm tình về một thời đã qua của dân tộc, của thế hệ ông một cách chân thực và rõ nét nhất. Nhưng hơn hết đến với truyện ngắn và tiểu thuyết, những đứa con tinh thần ở giai đoạn sau, nhà văn đã dành cho nó những yêu thương đặc biệt. Có lẽ bởi ở đây nhà văn có thể nói thẳng hơn, nói thật hơn, sáng tạo hơn, sáng tạo từ sự thật.
Có lẽ bởi đến đây, ông mới được sống trọn với con người mình, với những gì mình từng đi qua.