Đặt vấn đề Chính phủ Việt Nam coi rừng là một nguồn tài nguyên sinh thái quan trọng, có giá tri cho sự phát triển kinh tế xã hội và hạnh phúc cộng đồng trên đất nước. Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc thích nghỉ với biến đôi khí hậu thông qua những chức năng môi trường như chống xói mòn và đảm bảo tuần hoàn nước. Lâm sản và lâm sản ngoài gỗ cũng là nguồn dinh dưỡng quan trọng. Rừng cũng có một vai trò quan trọng trong xã hội, góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập.
Theo ODV (Dữ liệu mở về phát triển Việt Nam, năm 2019), có khoảng 25 triệu người dan Việt Nam có 20% - 40% thu nhập hàng năm đến từ rừng. Vai trò của rừng cũng được thể hiện ở vùng sâu vùng xa, vùng cao nơi có các dân cư sống bên trong hoặc gan các khu rừng là người nghèo hoặc người dân tộc thiểu sé. Từ năm 1991 đến nay lâm nghiệp Việt Nam đã có những đối mới căn bản, mạnh mẽ, hướng tới phát triển bền vững trong bối cảnh cả nước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể là điện tích rừng trồng tập trung 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 119,4 nghìn ha, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt gần 47 triệu cây, tăng 6%; sản lượng củi khai thác dat 9,5 triệu ste, tăng 0,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 8.
Hoạt động khai thác gỗ 6 tháng đầu năm 2022 tăng chủ yếu do nhu cầu sản xuất, chế biến và xuất khẩu gỗ tăng cao. Về thiệt hại rừng, trong 6 tháng đầu năm 2022 cả nước có 588 ha diện tích rừng bị thiệt hại, giảm 24,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: diện tích rừng bị cháy 27,7 ha, giảm 88,1%; diện tích rừng bị phá 560,3 ha, tăng 2%. Có thé thấy diện tích rừng đang ngày một tăng lên nhờ các chính sách, chương trình từ nhà nước, tuy nhiên chất lượng rừng lại đang bị suy giảm. Diện tích rừng tăng lên nhưng không còn đảm bảo tính đa dạng nguyên bản của nó, phần lớn các loài lâm sản có giá trị bị khai thác cạn kiệt, các diện tích rừng tự nhiên bị người dân chiếm hữu, lấn chiếm đất rừng.
Điều này dan tới hệ luy về việc các nguồn gen tự nhiên bị suy giảm, thảm thực vật mất tính đa dạng, phong phú, cau trúc rừng bị phá vỡ,. đây là một trong những vấn đề được ngành lâm nghiệp đặc biệt quan tâm. Theo quan điểm sinh thái học, thảm thực vật là tắm gương phản ánh khách quan nhất các điều kiện tự nhiên, nhân tố môi trường tại khu vực đó. Đồng thời là thành phần quan trọng trong khí quyền.
Thực vật không những là nhóm yếu tố tự nhiên quan trọng của lớp vỏ trái đất mà nó còn mang các tài nguyên giá trị, cung cấp các nguyên vật liệu đáp ứng cho nhu cầu con người. Trong những năm gần đây các nghiên cứu trên đối tượng thảm thực vật đang rất được quan tâm và ứng dụng nhằm đề xuất các hướng sử dụng hợp lý, bền vững nguồn tài nguyên rừng, bảo tồn tính đa dạng sinh học và quy hoạch môi trường. Sự phát triển các nghiên cứu này đặc biệt được quan tâm đối với các Khu Bảo tồn thiên nhiên, Vườn Quốc gia, nơi nguồn gen còn phong phú và đa dạng. Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà thuộc địa ban Tây Nguyên là một trong những Khu Bảo tồn quan trọng của Việt Nam với diện tích 70.
Nơi đây, vừa có chức năng chính là bảo tồn đa dạng sinh học, vừa có giá trị kinh tế và bảo vệ rừng đầu nguồn. VQG Bidoup — Núi Bà hiện có 2.089 loài thực vật, trong đó: 74 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam 2007 và có 35 loài có tên trong danh mục đỏ của Liên Minh Quốc tế Bao tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN). Động vật có 131 loài thuộc 12 bộ và 29 họ, với hơn 70 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam, Sách đỏ thế giới IUCN và trong danh mục động vật thuộc công ước CITES. VQG Bidoup — Núi Bà còn được đánh giá là vương quốc của các loài lan rừng Việt Nam với 317 loài thuộc 85 chi.
Tuy nhiên, tính đa dạng sinh hoc, sự phong phú va gia trị của VQG Bidoup — Núi Bà đang phải đối mặt với các đe dọa từ tự nhiên và con người. Nguyên nhân từ việc khai thác tài nguyên không hợp lý (chặt phá, đốt nương rẫy, mở các tuyến đường, khai thác đất trồng cây công nghiệp). Với tình hình hiện nay việc nghiên cứu về các đối tượng bảo tồn là rất cần thiết để hỗ trợ công tác bảo vệ và phát triển nguon tai nguyên rừng. Vì lẽ đó nghiên cứu về đa dạng sinh học và đặc biệt là cấu trúc rừng là rất cần thiết, cung cấp các thông tin cơ bản, các giá trị khoa học làm cơ sở để vận dụng vào công tác bảo tồn, sử dụng hợp lý, bền vững nguồn tài nguyên và cảnh quan thiên nhiên không chỉ riêng khu vực Tây Nguyên mà còn của cả nước.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, từ những kiến thức đã học, trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp cuối khóa, được sự phân công của Khoa Lâm nghiệp, Bộ môn Quản lý Tài nguyên rừng, dưới sự hướng dẫn của Thầy TS. Nguyễn Minh Cảnh, đề tài: “Đặc điểm cấu trúc và đa dạng loài cây gỗ của rừng kín thường xanh cây lá rộng, lá kim, trạng thái rừng trung bình tại khu vực Vườn Quốc gia Bidoup — Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu Xác định kết câu loài cây gỗ, cấu trúc quan thụ, thống kê thành phan loài ưu thế đối với quần xã thực vật ở rừng kín thường xanh cây lá rộng, lá kim trạng thái rừng trung bình tại khu vực nghiên cứu VQG Bidoup — Núi Bà. Phân tích đa dang loài cây gỗ và đa dạng cấu trúc đối với quan xã thực vật của kiêu rừng kín thường xanh cây lá rộng, lá kim trạng thái rừng trung bình tại khu vực nghiên cứu VQG Bidoup — Núi Bà.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bidoup — Núi Bà. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Các loài cây gỗ lớn thuộc kiểu rừng kín thường xanh cây lá rộng, lá kim trạng thái rừng trung bình tại khu vực VQG Bidoup — Núi Bà. Trạng thái rừng nghiên cứu: Rừng trung bình (có trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 100 m3/ha đến 200 m°/ha) theo thông tư 33/2018/TT-BNNVPTNT của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn ban hành quy định về điều tra, kiểm kê và theo đối diễn biến rừng.
Phạm vỉ nghiên cứu Với đề tài “Đặc điểm cấu trúc và đa dạng loài cây gỗ của rừng kín thường xanh cây lá rộng, lá kim, trạng thái rừng trung bình tại khu vực Vườn Quốc gia Bidoup — Núi Bà, Tinh Lâm Đồng”. Đề tài này chi tập trung nghiên cứu cấu trúc rừng, đa dạng các loài cây gỗ, kết cấu loài cây gỗ của kiểu rừng kín thường xanh cây lá rộng, lá kim, trạng thái rừng trung bình. Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu trên đối tượng cây thân gỗ, cây tái sinh, không nghiên cứu cây bụi, dây leo và lâm sản ngoài gỗ. Đồng thời đề ra các giải pháp bảo tồn DDSH tại VQG Bidoup — Núi Bà.
Chương 2 TONG QUAN VE VAN DE NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm có liên quan "Đa dạng sinh học" có nghĩa là tính biến thiên giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thái thuỷ vực khác và các tập hợp sinh thái ma chúng là một phan. Tính đa dạng này thé hiện ở trong mỗi bộ loài, giữa các loài và các hệ sinh học (công ước đa dạng sinh học, 1992). Theo từ điển “Đa dạng sinh học và phát triển bền vững” thì đa dạng sinh học là thuật ngữ dùng để mô tả sự phong phú và đa dạng của giới tự nhiên.
Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống từ mọi nguồn, trong các hệ sinh thái trên đất liền, đưới biển va các hệ sinh thái đưới nước khác và mọi tô hợp sinh thái mà chúng tạo nên. Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay đa dang gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thai). DDSH trên thế giới được thé hiện trên ba mức độ là đa dạng di truyền, đa đạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Da dang di truyền là biến dị trong cau trúc đi truyền của các cá thé bên trong hoặc giữa các loài, những biến dị di truyền bên trong hoặc giữa các quan thé.
Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy trong một khu vực cụ thé trong một vùng. Đa dạng hệ sinh thái bao gồm những khác biệt lớn giữa các kiểu hệ sinh thái, sự đa dạng của các môi trường sống (nơi cư trú) và các quá trình sinh thái xảy ra bên trong mỗi kiểu hệ sinh thái. Xét về mục tiêu quản lý, thường nó được dùng dé chỉ một tập hợp các quần xã giống nhau như rừng mưa nhiệt đới, rừng lá rộng thường xanh, rạn san hô. Tống quan về đa dạng loài Loài là do cơ thé sinh vật tiến hóa mà thành, do nó chiếm được một không gian nhất định, quan thể loài có sẵn số lượng cá thể nhất định trong thực tế hoặc bi thay đổi khi cách ly.
Tính đa dang loài là hình thức biểu hiện của tinh đa dạng sinh vật chung, nó là độ lượng về tính phức tạp của cau trúc và chức năng quần xã, nó bao gồm có các hàm ý như sau: Tính đa dạng loài của một khu vực địa lý nhất định là tính đa dạng loài nghiên cứu trong phạm vi khu vực đó; Là tổng số loài trong khu vực, chủ yếu theo góc độ phân loại học, hệ thống học và địa lý học đối với việc nghiên cứu tình hình loài động, thực vật trong một khu vực; Cũng còn được gọi là tính đa dạng loài khu vực. Tính đa dạng loài động thực vật của quần xã là nghiên cứu cấu trúc theo chiều nằm ngang theo góc độ sinh thái học, ở đây chú trọng ý nghĩa sinh thái học của tính đa dạng loài; Là chỉ trình độ đồng đều về sự phân bố các loài trên phương diện sinh thái học, thường được nghiên cứu trên một bộ phận diện tích của quần xã hoặc trên các OTC, ODB,.