Đặc điểm bút ký Kiều Vượng trong văn học Việt Nam

Khám phá luận văn thạc sĩ về đặc điểm bút ký Kiều Vượng, phân tích sâu sắc phong cách và ảnh hưởng của tác giả trong văn học Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

127
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Những nghiên cứu chung về Kiều Vượng

0.4. Những ý kiến bàn luận về ký của Kiều Vượng

0.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5.1. Đối tượng nghiên cứu

0.5.2. Phạm vi nghiên cứu

0.6. Mục đích, Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

0.6.1. Mục đích nghiên cứu

0.6.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.6.3. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Đóng góp của luận văn

0.8. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: THỂ KÝ TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA KIỀU VƯỢNG

1.1. Khái niệm ký và đặc điểm của thể loại

1.1.1. Khái niệm ký

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM KÝ KIỀU VƯỢNG NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1. Vẻ đẹp của đất và người xứ Thanh

2.1.1. Điều kiện tự nhiên vùng biển Thanh Hóa

2.1.2. Lịch sử oai hùng của vùng đất kinh đô cũ

2.1.3. Mảnh đất và con người xứ Thanh trong kháng chiến

2.1.4. Xứ Thanh từng bước phát triển trong thời kỳ đổi mới

2.2. Hình tượng cái tôi trần thuật trong ký Kiều Vượng

2.2.1. Khái niệm trần thuật và cái tôi trần thuật trong ký

2.2.2. Đặc điểm cái tôi trần thuật trong ký Kiều Vượng

2.3. Chân dung các nhà văn, nhà thơ xứ Thanh qua ký của Kiều Vượng

2.3.1. Nghệ thuật khắc họa chân dung

2.3.2. Chân dung các nhà thơ

2.3.3. Chân dung các nhà văn

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM KÝ KIỀU VƯỢNG NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT

3.1. Kết cấu theo dòng sự kiện

3.2. Kết cấu xâu chuỗi theo tâm trạng, hồi tưởng

3.3. Kết hợp nhiều sắc thái giọng điệu

3.3.1. Giọng trữ tình, xúc động

3.3.2. Giọng bùi ngùi, chua xót

3.3.3. Giọng chính luận mang màu sắc báo chí

3.4. Nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong bút ký Kiều Vượng

3.4.1. Ngôn từ giản dị đời thường

3.4.2. Ngôn từ mang tính khoa học chặt chẽ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bút ký Kiều Vượng trong văn học Việt Nam

Bút ký Kiều Vượng là một trong những thể loại văn học đặc sắc, phản ánh chân thực đời sống xã hội Việt Nam. Tác phẩm của ông không chỉ đơn thuần là ghi chép mà còn mang đậm tính nghệ thuật và cảm xúc. Kiều Vượng đã sử dụng bút ký như một phương tiện để thể hiện những suy tư, trăn trở về cuộc sống, con người và quê hương. Những trang viết của ông không chỉ là những dòng chữ mà còn là những bức tranh sống động về hiện thực xã hội.

1.1. Định nghĩa và vai trò của bút ký trong văn học

Bút ký là thể loại văn học ghi lại những điều mắt thấy, tai nghe, thể hiện cảm xúc và quan điểm cá nhân của tác giả. Vai trò của bút ký trong văn học Việt Nam rất quan trọng, nó giúp phản ánh chân thực đời sống xã hội và những biến động lịch sử.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển bút ký Kiều Vượng

Bút ký Kiều Vượng ra đời trong bối cảnh văn học Việt Nam đang chuyển mình. Từ những năm đầu thế kỷ XX, thể loại này đã có những bước phát triển mạnh mẽ, và Kiều Vượng là một trong những tác giả tiêu biểu, góp phần làm phong phú thêm thể loại này.

II. Đặc điểm nổi bật của bút ký Kiều Vượng

Bút ký Kiều Vượng nổi bật với những đặc điểm riêng biệt, từ nội dung đến nghệ thuật. Ông thường khai thác những đề tài gần gũi, phản ánh cuộc sống đời thường, những con người bình dị nhưng đầy cảm xúc. Phong cách viết của Kiều Vượng mang đậm tính tự sự, thể hiện cái tôi trần thuật rõ nét.

2.1. Nội dung bút ký Kiều Vượng Từ hiện thực đến tâm tư

Nội dung bút ký của Kiều Vượng thường xoay quanh những vấn đề xã hội, con người và quê hương. Ông không ngại đề cập đến những khía cạnh tối tăm của cuộc sống, từ đó thể hiện những tâm tư, tình cảm sâu sắc của mình.

2.2. Phong cách nghệ thuật trong bút ký Kiều Vượng

Phong cách nghệ thuật của Kiều Vượng rất đa dạng, từ việc sử dụng ngôn từ giản dị, gần gũi đến việc khắc họa hình ảnh sinh động. Ông thường kết hợp giữa yếu tố tự sự và miêu tả, tạo nên những tác phẩm vừa chân thực vừa giàu cảm xúc.

III. Những thách thức trong việc nghiên cứu bút ký Kiều Vượng

Việc nghiên cứu bút ký Kiều Vượng gặp nhiều thách thức do sự đa dạng trong phong cách và nội dung. Nhiều tác phẩm của ông chưa được phân tích một cách sâu sắc, dẫn đến việc thiếu hụt tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu.

3.1. Khó khăn trong việc tiếp cận tài liệu

Nhiều tác phẩm bút ký của Kiều Vượng chưa được xuất bản rộng rãi, khiến cho việc tiếp cận tài liệu trở nên khó khăn. Điều này ảnh hưởng đến việc nghiên cứu và phân tích các tác phẩm của ông.

3.2. Thiếu sự công nhận từ giới phê bình

Mặc dù có nhiều tác phẩm nổi bật, nhưng bút ký Kiều Vượng vẫn chưa nhận được sự công nhận xứng đáng từ giới phê bình. Điều này làm giảm đi giá trị của những tác phẩm mà ông đã cống hiến cho văn học.

IV. Ứng dụng thực tiễn của bút ký Kiều Vượng trong giáo dục

Bút ký Kiều Vượng không chỉ có giá trị văn học mà còn có thể được ứng dụng trong giáo dục. Những tác phẩm của ông có thể giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ hơn về văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam.

4.1. Giá trị giáo dục từ bút ký Kiều Vượng

Các tác phẩm bút ký của Kiều Vượng có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy trong các môn học về văn học, lịch sử và văn hóa. Chúng giúp học sinh nhận thức rõ hơn về cuộc sống và con người Việt Nam.

4.2. Khuyến khích tư duy phản biện qua bút ký

Bút ký Kiều Vượng khuyến khích người đọc tư duy phản biện, từ đó hình thành những quan điểm cá nhân về cuộc sống. Điều này rất quan trọng trong việc phát triển tư duy độc lập cho học sinh.

V. Kết luận về bút ký Kiều Vượng và tương lai nghiên cứu

Bút ký Kiều Vượng là một phần quan trọng trong văn học Việt Nam, phản ánh chân thực đời sống xã hội. Nghiên cứu về bút ký của ông không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn mở ra hướng đi mới cho các nhà nghiên cứu trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của bút ký Kiều Vượng trong văn học

Bút ký Kiều Vượng không chỉ là một thể loại văn học mà còn là một phần không thể thiếu trong việc phản ánh hiện thực xã hội. Nó giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về cuộc sống và con người.

5.2. Hướng đi mới cho nghiên cứu bút ký trong tương lai

Nghiên cứu bút ký Kiều Vượng cần được mở rộng hơn nữa, không chỉ dừng lại ở việc phân tích tác phẩm mà còn cần tìm hiểu sâu về bối cảnh lịch sử, văn hóa và xã hội mà ông đã sống và sáng tác.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay đặc điểm bút ký kiều vượng

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu bằng việc giới thiệu nhân vật “Có người gọi tôi: Bà Bảy Nước Tương, bà Bảy Dọn, bà Bảy Đò. Có lẽ cái tên Bảy Đò đã chết danh với đời tôi”. Hay trong bút kí của Nguyễn Bắc Sơn trong việc thể hiện tình cảm của mình tới đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Tôi thuộc tuyệt đại đa số người không dám ao ước ấy. Vậy mà …tự nhiên được mời tham gia vào đoàn đến chúc mừng Đại tướng nhân dịp thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tôi được thỏa thuê, no nê ngắm nhìn, lắng nghe ông trò truyện trong suốt hơn một giờ. Chỉ tiếc không được chào trực tiếp, không được bắt tay ông mà chỉ được cùng mọi người chụp ảnh với ông”. Bằng ngôi kể xưng tôi trong tác phẩm, bút kí tạo cho người đọc cảm giác như mình được sống trong chính hoàn cảnh sự việc trong câu chuyện, tạo mức độ tin cậy và thuyết phục cho câu chuyện mình kể. Để làm được điều này, tác giả thường tạo nên tình huống rất tình cờ, như một cuộc hành trình, một chuyến dã ngoại hay một cuộc trở về với quá khứ của mình.

Đây là một yếu tố không thể thiếu trong các tác phẩm bút kí. Bằng các hiện tượng, sự việc có thật trong đời sống mà không ít tác phẩm bút kí khi ra đời có thể gặp được sự đón nhận của độc giả hoặc có thể tạo ra một làn sóng dư luận. Lấy tư liệu bằng các hiện tượng thời sự của xã hội vào tác phẩm, không ít các tác phẩm bút kí gây chấn động dư luận mà còn mang lại nhiều hệ lụy cho tác giả như bút kí “Thủ tục để làm người còn sống” 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của tác giả Minh Chuyên. Ngay khi vừa được in trên trang nhất báo Văn nghệ số 1280 ra ngày 14/05/1988, đã gây ra một cơn chấn động khắp mọi trang báo văn nghệ lẫn đời thực.

Bút kí phản ánh hiện thực của những người lính sau cuôc chiến tranh trở về. Họ còn sống nhưng lại không được công nhận về sự sống của mình, cả cuộc đời còn lại của người lính Trần Quyết Định là đi tìm cho mình một giấy chứng nhận làm người còn sống. Những hiệu ứng này của độc giả đối với các tác phẩm bút kí càng cho thấy, những nhu cầu hay bản năng trong các tác phẩm kí rất chính đáng và cơ bản trong nhu cầu trong cuộc sống của con người. Bút kí là thể loại nằm cạnh kề với báo chí nên có không ít các tác phẩm xuất hiện của nhân vật xưng tôi với tư cách nhà báo.

Nhân vật xưng tôi đi vào cuộc hành trình khám phá truy tìm sự thật trong một mớ hỗn độn mà sự thật thì luôn bị che lấp trong vỏ bọc hào nhoáng bên ngoài. Với Anh Đức: “Dòng chữ ghi một cách ngắn gọn, tàn nhẫn, tội ác của chúng được cụ thể hóa bằng số liệu và bom đạn…Trong quyển sổ võ khí có trang ghi: bom napan đã ném 20 quả, đạn rốc két đã bắn 40 trái. Thế có nghĩa là ngày hôm ấy nhà cửa đồng bào đã cháy, các em bé và các bà mẹ đã chết, cây ăn quả ngã gục”. Những số liệu, con số như nói lên tất cả sự thật mà Anh Đức muốn thể hiện trong tác phẩm của mình.

Những nhân chứng của hiện thực dần được tác giả chỉ ra để làm rõ thêm cho luận điểm mà tác giả đưa ra. Bằng việc nghiên cứu, tìm tòi và thu thập thông tin chính xác, tác giả đã giúp cho độc giả nhận ra những chân lý, những lẽ phải cần phải có trong xã hội. Có thể thấy, việc sử dụng các sự kiện, hiện tượng có thực trong xã hội vào nội dung tác phẩm văn học kí càng khiến cho người đọc hiểu thêm về những mặt sai trái còn tồn tại trong xã hội hiện nay. Việc sử dụng thông tin có thật, đưa đến cho người đọc những thông tin hữu ích, những mặt còn tồn tại ẩn lấp sau ánh hào quang sáng chói vẫn còn những mảng tối cần được soi rọi.

Với các tác phẩm bút kí, mã sự thật hay ngôn ngữ sự thật trở thành một thành 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tố không thể thiếu để gây dựng lên nội dung cả tác phẩm. Đây cũng là một đặc trưng cơ bản của bút kí để phân biệt thể loại bút kí với các thể loại khác trong kí cũng như các thể loại khác trong văn học đương đại.2 Trực tiếp bày tỏ quan điểm của tác giả Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tác giả là những người làm ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, tác phẩm văn học. Về thực chất, tác giả văn học là người làm ra cái mới, người sáng tạo ra các giá trị văn học mới. Sự bắt chước, mô phỏng, theo đuôi thời thượng hoặc sáng tạo không có bản sắc, không làm nên tác giả văn học đích thực”.

Qủa đúng như vậy, mỗi một tác phẩm văn học ra đời đều là sự nâng niu, trau chuốt của mỗi tác giả trong những tác phẩm văn học của mình. Đằng sau mỗi câu từ, mỗi câu chuyện mà tác giả mang lại cho độc giả đều mang những bài học, những triết lý ở đời, những quan niệm về cuộc sống. Với mỗi thể loại văn học tác giả đều có những cách riêng để thể hiện cái tôi cá nhân của mình. Đến với truyện và trữ tình, ta thấy hình ảnh tác giả lấp ló đâu đó trong từng ngôn từ, từng hình ảnh, người đọc phải suy ngẫm và nghiên cứu mới có thể thấy được hình ảnh của tác giả trong đó.

Với Nguyễn Bính, - “nhà thơ chân quê” viết nhiều về làng cảnh nông thôn vùng Bắc Bộ. Nhà thơ mượn những hình ảnh đặc trưng của làng quê Bắc bộ như cau, trầu, rơm, khói… để nói lên tâm tư, tình cảm của mình. “Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ trầu không bên nào?” (Tương tư – Nguyễn Bính) Hay với thi sĩ tình yêu như Xuân Diệu, hình ảnh về tình yêu luôn hiện hữu và tràn đầy nhựa sống trong từng câu từ ông viết. “Yêu là chết ở trong lòng một ít Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu” 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với mỗi nhà văn, ai cũng để lại trong tác phẩm của mình những dấu ấn riêng, những dấu ấn ấy đều ẩn lấp sau những ngôn từ, hình ảnh được tác giả chắt lọc, nâng niu với đứa con tinh thần của mình.

Tất cả mọi thứ đều bị che lấp đi đằng sau lớp ngôn từ văn bản. Thơ là thể loại sử dụng ít ngôn từ, nó yêu cầu người nghệ sĩ phải lựa chọn, chắt lọc những ngôn từ đắt giá nhất để sử dụng trong văn bản. Bên cạnh đó, những biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa…cũng khiến cho lớp ngôn từ trong thơ ca đa dạng hơn. “Mặt trời bắp thì nằm trên trời Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng” Cũng cùng một hình ảnh về mặt trời nhưng mỗi nhà văn lại có một phép biến hóa riêng, với Viễn Phương, hình ảnh mặt trời lại mang một ý nghĩa khác: “Ngày ngày mặt trời qua qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” Ít sử dụng đại từ nhân xưng “tôi” trong các tác phẩm mang thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ ca… mà chủ yếu tác giả mượn lời nhân vật để bày tỏ quan điểm, triết lí ở đời.

Với Nam Cao, ông sử dụng hình ảnh những người nông dân nghèo như Chí Phèo, Lão Hạc… những người trí thức nghèo như Thức, ông lão giáo trong Lão Hạc để thể hiện cái tôi cá nhân của mình. Cái tôi ấy được ẩn lấp đằng sau hình ảnh của những nhân vật. Để cho nhân vật tự nói chuyện với nhau, đôi khi chính tác giả khi viết xong câu chuyện của mình, bày tỏ cảm xúc, quan điểm chính trị của nhân vật ấy. Tác giả là người đứng ngoài văn bản để dẫn dắt câu chuyện theo quan điểm của mình.

Đến với kí nói chung và bút kí nói riêng, quan điểm của nhà văn luôn được thể hiện rõ bằng ngôi kể xưng tôi. Nhân vật tôi xuất hiện trực tiếp, vừa có vai trò như người kể truyện bên cạnh đó cũng trực tiếp nêu lên quan điểm của mình trước các hiện tượng, sự kiện nhân vật được trải nghiệm. Khi tiếp cận với bút kí, ta nhận thấy hầu như mọi cái tôi đều trực tiếp phản ánh hiện thực. Đến với bút kí Anh Đức “Có lần tôi đã nhìn thấy một anh 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thợ đốt lò chiến đấu với khẩu súng tự tạo, lấy lò than của mình làm công sự, sau khi cùng toàn đội đẩy lùi trận càn, anh bị thương nặng từ trong lò than bò ra, người anh bám đầy than đen, ngực anh đầm đìa những máu.

Trước lúc chết anh bảo vợ bồng đứa con gái nhỏ lại gần, anh kề miệng hôn đứa con gái mình lần cuối.”[13] Trong bút kí Sóng Cửu Long, hình ảnh những người con gái Việt Nam hiện lên hiên ngang, kiên cường trong mỗi cuộc đấu tranh chống giặc mĩ của dân tộc. Vai trò của người phụ nữ là không thể chối cãi được, họ vừa là người “giỏi việc nước, đảm việc nhà” xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ dành tặng cho họ “Anh hùng – bất khuất – trung hậu – đảm đang”. Những con người ấy được Trần Minh Hiếu miêu tả qua từng con người như chị Hai, chị Bảy, chị Ba “Họ nhẹ nhàng lướt trên tất cả như những cánh chim kia bay bổng lên trên những tầng mây khói lâng lâng giữa trời xanh. Họ cứ vậy mà chiến đấu để giải phóng quê hương, thống nhất đất nước, bảo vệ tuổi trẻ và hạnh phúc của họ đang bị đe dọa từng giờ từng phút.

Họ là những lớp sóng mới dấy lên từ chủ nghĩa anh hùng mới, quốc phong mới, thời đại mới của dân tộc và đang cuồn cuộn kéo theo muôn ngàn lớp khác nối tiếp nhau qua bao thế hệ như nước kia, sóng kia không ngừng cuồn cuộn trên dòng Cửu Long”[46/282]. Trong bút kí của Nguyễn Bắc Sơn những triết lí về cuộc sống về dân tộc luôn được tác giả đặt lên hàng đầu “Chớ có nói lịch sử không bao giờ lặp lại. Lịch sử kháng chiến của dân tộc ta chả đã nhiều lần lặp lại đó thôi. Trước hết là ba lần đánh thắng giặc trên cùng một địa danh nổi tiếng – Bạch Đằng, bằng cùng một chiến thuật, dùng trận địa cọc cắm xuống lòng sông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ