Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ với đề tài "Tính tất yếu về đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức nghiên cứu và triển khai trong thiết chế tự chủ của khoa học" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Bích Ngọc thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Vũ Cao Đàm và TS. Trần Xuân Định.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau năm 1975, Việt Nam xây dựng hệ thống các tổ chức nghiên cứu và triển khai (NC&TK) mang chức năng nghiên cứu đơn thuần với cơ cấu tổ chức cơ học, chịu sự chỉ đạo và bao cấp toàn diện từ Nhà nước. Khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường từ cuối thập niên 1980 và đặc biệt sau khi Nhà nước ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) công lập, các viện NC&TK rơi vào tình trạng lúng túng, gặp nhiều trở ngại trong việc thực thi.

Vấn đề cốt lõi được tác giả chỉ ra là các tổ chức NC&TK tại Việt Nam vẫn duy trì cơ cấu đơn chức năng và mô hình tổ chức cứng nhắc từ thời kỳ bao cấp, chưa tiến hóa để thích ứng với quy luật của kinh tế thị trường. Để thực thi quyền tự chủ thực chất, các tổ chức NC&TK bắt buộc phải đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức. Lịch sử KH&CN Việt Nam từng ghi nhận mô hình Nha Nghiên cứu Kỹ thuật (thành lập năm 1947 thuộc Cục Quân giới, Bộ Quốc phòng) đã tích hợp nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai công nghệ với sản xuất và đào tạo trong một thiết chế tự chủ sơ khai. Do đó, việc nghiên cứu tính tất yếu của quá trình đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức là yêu cầu cấp thiết nhằm tạo lập nội lực cho các tổ chức NC&TK trong thiết chế tự chủ.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Chứng minh việc đa dạng hóa chức năng và cơ cấu của các tổ chức NC&TK mang tính tất yếu trong thiết chế tự chủ của khoa học.
  • Mục tiêu cụ thể:
    • Mục tiêu 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định khoảng trống khoa học mà luận án cần tập trung giải quyết.
    • Mục tiêu 2: Làm rõ cơ sở lý luận về đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức NC&TK trong thiết chế tự chủ của khoa học.
    • Mục tiêu 3: Phân tích thực trạng tiến hóa của các tổ chức NC&TK ở Việt Nam trong thiết chế tự chủ của khoa học.
    • Mục tiêu 4: Đề xuất, xác định các điều kiện đảm bảo thực hiện đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức NC&TK trong thiết chế tự chủ của khoa học.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Vì sao xem đa dạng về chức năng và cơ cấu tổ chức nghiên cứu và triển khai mang tính tất yếu trong thiết chế tự chủ của khoa học?
  2. Làm thế nào để hiện thực hóa đa dạng chức năng và cơ cấu của các tổ chức nghiên cứu và triển khai?

Giả thuyết nghiên cứu

  1. Tự chủ trong khoa học là quyền tự quyết định phương hướng phát triển khoa học, chương trình hợp tác, tổ chức, nhân sự, tìm kiếm nguồn tài trợ, tài chính, xóa bỏ ràng buộc hành chính và tự chủ trong xác định tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động; để đạt được thiết chế tự chủ, các tổ chức NC&TK cần đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức.
  2. Thiết chế tự chủ trong khoa học hiện hữu ở các nước phát triển với hệ thống các tổ chức NC&TK có chức năng và cơ cấu đa dạng.
  3. Thiết chế tự chủ trong khoa học đang hình thành ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi và ở Việt Nam, thúc đẩy các tổ chức NC&TK phát triển theo xu hướng đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức.
  4. Tái cơ cấu hệ thống tổ chức NC&TK nhằm hiện thực hóa việc đa dạng hóa chức năng và cơ cấu của các tổ chức này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống tổ chức NC&TK công lập ở Việt Nam (khảo sát điển hình tại Viện Dầu khí Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam); tiến trình đa dạng hóa chức năng, cấu trúc, thiết chế tự chủ và mối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố này.
  • Phạm vi nội dung: Đa dạng hóa chức năng và cơ cấu của tổ chức NC&TK thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ trong thiết chế tự chủ của khoa học.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống các tổ chức NC&TK công lập về khoa học tự nhiên và công nghệ tại Việt Nam; hệ thống văn bản chính sách KH&CN của Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát hoạt động của các tổ chức NC&TK từ năm 1945 đến thời điểm nghiên cứu (2018) và hệ thống chính sách KH&CN từ năm 1981 đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Sau khi Nghị định 115/2005/NĐ-CP được ban hành, các công trình học thuật trong nước tập trung vào các nhóm nội dung:

  • Cơ chế chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp và tài chính: Doãn Minh Tâm (2006, 2007) bàn về xây dựng đề án chuyển đổi sang cơ chế doanh nghiệp và định giá giá trị lao động khoa học; Nguyễn Thị Anh Thu (2006) đề cập đổi mới chính sách tài chính, phân bổ ngân sách và thủ tục thanh quyết toán; Nguyễn Quân (2006) phân tích mô hình doanh nghiệp KH&CN và bài học doanh nghiệp spin-off từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc; Nguyễn Thanh Tùng (2006) phân tích điều kiện cần và đủ khi chuyển các viện công nghệ sang doanh nghiệp; Hồ Sơn Lâm (2006), Phạm Huy Tiến (2006), Đỗ Nguyên Khoát (2007) bàn về trách nhiệm của cơ quan chủ quản và triển khai Điều 4 Nghị định 115.
  • Các rào cản và vướng mắc thể chế: Hồ Sĩ Thoảng (2006) nhấn mạnh quyền tự do học thuật và cơ cấu viện theo hướng nghiên cứu; Nguyễn Hải Hằng (2008) chỉ ra khó khăn về nhân lực và vật lực tại địa phương; Nguyễn Ngọc Điện (2011) bàn về mô hình tổ chức KH&CN trong trường đại học; Nguyễn Sỹ Lộc (2012) phân tích những bất cập trong việc hoạch định chính sách; Vũ Cao Đàm (2012) chỉ ra các điểm nghẽn nằm ở thiết chế vĩ mô về KH&CN và kinh tế - xã hội; Đinh Việt Bách (2012, 2016) đề xuất đồng bộ hóa Nghị định 115 và Nghị định 96/2010/NĐ-CP với hệ thống pháp luật; Dương Nguyên Vũ phân tích quyền tự chủ gắn liền với trách nhiệm giải trình theo mô hình tam giác tri thức.
  • Các đề tài, dự án và luận văn: Đề tài của Nguyễn Văn Học (1998) về cơ chế tự sắp xếp của tổ chức R&D; Vũ Cao Đàm (1997–1999) về cải cách hành chính và các mô hình chuyển đổi viện nghiên cứu; Bạch Tân Sinh (2003–2004, 2005) về phát triển doanh nghiệp KH&CN; Phạm Quang Trí (2007) so sánh mạng lưới R&D ở Đức, Trung Quốc và Việt Nam; Hoàng Văn Tuyên (2009–2010) về tổ chức KH&CN trong tập đoàn kinh tế; các luận văn thạc sĩ của Đinh Việt Bách, Nguyễn Thanh Bình, Võ Thị Ngọc Hương, Lê Thu Hương, Trần Thị Hồng Lan, Nguyễn Thu Hợp, Phạm Thị Hồng Vân và luận văn của Phạm Thị Bích Ngọc (nghiên cứu tái cơ cấu viện nghiên cứu theo mô hình kết hợp nghiên cứu và đào tạo).

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Lý thuyết về quyền tự chủ và quản trị khoa học: P. Nyborg (2003) phân tích các khía cạnh tự chủ học thuật, tự chủ hành chính và tự quản tài chính trong Hiệp ước Bologna; Amaral, Jones và Karseth phân tích tự do học thuật tại các đại học châu Âu lục địa; Báo cáo World Bank (2008) phân loại 4 mô hình quản trị đại học (Nhà nước kiểm soát, bán tự chủ, bán độc lập, độc lập) và xu hướng chuyển từ "Nhà nước kiểm soát" sang "Nhà nước giám sát".
  • Mô hình tổ chức R&D tự chủ tại châu Á: Nghiên cứu của James P. Blackledge (thực hiện cho USAID) khảo sát 60 viện nghiên cứu tại 30 quốc gia đang phát triển, phân tích sự thành công của Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) được thành lập với quyền tự chủ cao theo luật riêng, nguồn vốn ban đầu 24,1 triệu USD và khảo sát nhu cầu từ hơn 600 nhà máy công nghiệp. Nghiên cứu so sánh KIST với Viện SISIR (Singapore), Viện NISIR (Malaysia), Trung tâm MIRDC (Philippines), Hội đồng PCSIR (Pakistan), Hội đồng CSIR (Ấn Độ) và Tập đoàn ASRCT (Thái Lan).
  • Chuyển đổi hệ thống R&D ở các nước xã hội chủ nghĩa: Công trình của Yan và Zhu Sendi (1995) phân tích các giai đoạn cải cách R&D tại Trung Quốc thông qua việc sáp nhập viện vào doanh nghiệp và thúc đẩy thương mại hóa; các nghiên cứu của Meske và cộng sự về 3 giai đoạn chuyển đổi hệ thống KH&CN ở các nước Đông Âu (tan rã, cơ cấu lại, xây dựng hệ thống mới).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Phần lớn các nghiên cứu trong nước chỉ tập trung vào bài toán tự chủ tài chính hoặc cơ chế chuyển đổi thành doanh nghiệp, chưa phân tích mối quan hệ giữa quyền tự chủ (yếu tố do Nhà nước trao) và năng lực tự chủ (nội lực bên trong của tổ chức). Các nghiên cứu quốc tế tại các nước phát triển không đặt vấn đề tái cơ cấu vì tổ chức của họ vốn đã đa dạng hóa, trong khi kinh nghiệm giải thể hệ thống cũ của Đông Âu không phù hợp với bối cảnh ổn định chính trị tại Việt Nam. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc tái cơ cấu các tổ chức NC&TK công lập theo hướng đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức nhằm xây dựng năng lực tự chủ thực chất.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

  • Khái niệm về KH&CN và hoạt động NC&TK: Luận án sử dụng các định nghĩa từ Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 và Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Vũ Cao Đàm để phân định các thành tố: nghiên cứu cơ bản (thuần túy và định hướng), nghiên cứu ứng dụng, triển khai công nghệ (triển khai trong phòng và bán đại trà), dịch vụ KH&CN và sản xuất thử nghiệm.
  • Quy luật kinh tế thị trường: Vận dụng lý thuyết của Adam Smith, Từ điển Kinh tế học hiện đại và các quy luật kinh tế cơ bản (quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật giá trị thặng dư, quy luật cạnh tranh) để luận giải sự tương tác giữa tổ chức khoa học và thị trường.
  • Lý thuyết về tự chủ và thiết chế tự chủ: Dựa trên nguồn gốc thuật ngữ "Autonomos" (auto: chính nó, nomos: luật lệ), quan điểm của John Collier về hệ thống tự thích nghi, Muñiz Castillo về năng lực nội sinh, cùng lý thuyết xã hội học của Fichter, Anthony Giddens và Derek J. de Solla Price xem khoa học là một thiết chế xã hội.
  • Cấu trúc tự chủ trong khoa học: Luận án phân tách tự chủ thành ba thành phần:
    1. Quyền tự chủ: Khung pháp lý do Nhà nước ban hành và trao cho tổ chức.
    2. Năng lực tự chủ: Nội lực tự thân của tổ chức (hình thành qua đa dạng hóa chức năng và cơ cấu), sự hỗ trợ hạ tầng/chính sách từ Nhà nước và quan hệ hợp tác quốc tế.
    3. Tinh thần tự chủ: Ý chí và sự sẵn sàng chịu trách nhiệm của đội ngũ lãnh đạo quản lý và cộng đồng các nhà khoa học.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án tiếp cận theo hướng định tính, kết hợp nghiên cứu lịch sử, phân tích tài liệu và nghiên cứu phi thực nghiệm:

  • Phương pháp phân tích tài liệu: Tổng hợp, xử lý hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN từ năm 1981 đến 2018, các báo cáo tài chính, báo cáo nhân lực, số liệu công bố khoa học, sở hữu trí tuệ và đề tài nghiên cứu từ các nguồn lưu trữ của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Dầu khí Việt Nam.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia thuộc ba nhóm đối tượng bằng phiếu câu hỏi thiết kế sẵn:
    • Nhà quản lý, nhà khoa học tại Viện Dầu khí Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên.
    • Giám đốc doanh nghiệp KH&CN spin-off và Giám đốc doanh nghiệp theo Nghị định 35 thuộc Viện Cơ học.
    • Nhà quản lý từng công tác tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu từ hội thảo, tọa đàm khoa học: Thu nhận và phân tích ý kiến chuyên môn tại:
    • Hội thảo "Những vấn đề lý luận và các quan điểm tổ chức hệ thống KH&CN trong nền khoa học tự chủ" (ngày 31/01/2015 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn).
    • Tọa đàm "Đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp tăng cường triển khai thực hiện Nghị định 115/2015/NQ-CP và Nghị định 80/2007/NĐ-CP" (ngày 08/12/2015 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn).
    • Tọa đàm "Thị trường và Khoa học - Công nghệ" (ngày 27/09/2017 tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức nghiên cứu và triển khai trong thiết chế tự chủ của khoa học

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến thiết chế tự chủ. Tác giả phân tích các luồng quan điểm xoay quanh Nghị định 115/2005/NĐ-CP, chỉ ra nguyên nhân khiến các chính sách tự chủ trước đây chưa đạt hiệu quả mong muốn do thiếu sự đồng bộ thể chế và thiếu sự chuẩn bị về năng lực tự chủ nội sinh.

Chương 1 cũng tổng hợp các mô hình viện nghiên cứu quốc tế từ nghiên cứu của USAID/James P. Blackledge đối với các viện R&D châu Á:

Tên tổ chức / Quốc gia Năm thành lập Mức độ tự chủ và cơ chế tài chính Mức độ hiệu quả hoạt động
KIST (Hàn Quốc) 1966 Tự chủ tối đa theo luật riêng; Nhà nước cấp vốn ban đầu 24,1 triệu USD và đất đai; không bị can thiệp kiểm toán hành chính Tự chủ tài chính sau 4 năm; gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của hơn 600 nhà máy công nghiệp
SISIR (Singapore) 1969 Ban đầu gặp khó khăn; sau khi học tập KIST liên kết doanh nghiệp và điều tra thị trường đã hoạt động hiệu quả Trở thành nguồn lực phục vụ hiện đại hóa công nghiệp
NISIR (Malaysia) Giai đoạn 1970s Bị chi phối bởi các viện chuyên ngành; doanh thu hợp đồng chỉ đạt 5–10% chi phí; lệ thuộc tài trợ chính phủ Hiệu quả thấp, nghiên cứu chồng chéo, thủ tục quan liêu
MIRDC (Philippines) 1966 Mức độ tự chủ khá cao; doanh thu hợp đồng chuyển vào quỹ riêng dùng để trả thưởng cho nhà khoa học Hoạt động gắn với các ngành công nghiệp kim loại
PCSIR (Pakistan) 1953 Tự nhận tự chủ nhưng bị Chính phủ kiểm soát tài chính; lương thấp so với khu vực tư nhân Hoạt động dịch vụ từ 1965 nhưng doanh thu không đáng kể, khó giữ nhân lực
CSIR (Ấn Độ) 1942 Ngân sách do Nhà nước cấp toàn bộ; nguồn thu nộp hết vào ngân sách; chi phối bởi hành chính Hoàn toàn không có tính tự chủ, nghiên cứu bị hành chính hóa
ASRCT (Thái Lan) 1963 Hội đồng quản trị do Chính phủ bổ nhiệm; doanh thu nộp về quỹ chung của giám đốc; thù lao thấp Thu không đủ bù chi, hoạt động kém hiệu quả

Từ bức tranh tổng quan, tác giả rút ra kết luận: tự chủ là điều kiện tiên quyết cho hoạt động NC&TK, và việc thích ứng chỉ thành công khi tổ chức tự tái cơ cấu để kết nối trực tiếp với thị trường.

Chương 2: Cơ sở lý luận về đa dạng hóa chức năng và cơ cấu của các tổ chức nghiên cứu và triển khai trong thiết chế tự chủ của khoa học

Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết nền tảng:

  • Phân định các chức năng của tổ chức NC&TK: Chức năng nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản thuần túy, nghiên cứu cơ bản định hướng nền tảng và chuyên đề, nghiên cứu ứng dụng, triển khai công nghệ), chức năng đào tạo (đại học và sau đại học), chức năng dịch vụ KH&CN và chức năng sản xuất thương mại.
  • Bản chất của đa dạng hóa chức năng và cơ cấu: Đa dạng hóa chức năng là việc tổ chức mở rộng từ một chức năng nghiên cứu duy nhất sang tích hợp nghiên cứu – đào tạo – sản xuất – dịch vụ. Đa dạng hóa cơ cấu là việc chuyển đổi từ cấu trúc phòng ban hành chính thuần túy sang cấu trúc ma trận hoặc mạng lưới gồm các phòng thí nghiệm, trung tâm phát triển, doanh nghiệp khoa học công nghệ trực thuộc (spin-off), cơ sở ươm tạo và các đơn vị dịch vụ.
  • Quan hệ nhân quả giữa đa dạng hóa và tự chủ: Tự chủ không thể thực thi nếu tổ chức chỉ nhận nhiệm vụ từ ngân sách. Khi đa dạng hóa chức năng, tổ chức tạo ra nhiều dòng doanh thu và kênh phục vụ xã hội, từ đó hình thành năng lực tự chủ; ngược lại, quyền tự chủ tạo không gian pháp lý để tổ chức chủ động tái cấu trúc.

Chương 3: Tiến hóa của các tổ chức nghiên cứu và triển khai ở Việt Nam trong tiến trình phát triển thiết chế tự chủ

Chương 3 đi sâu phân tích tiến trình lịch sử và thực trạng chuyển đổi của các viện nghiên cứu tại Việt Nam qua các giai đoạn:

  • Mô hình Nha Nghiên cứu Kỹ thuật (1947): Phân tích trường hợp điển hình của Nha Nghiên cứu Kỹ thuật thuộc Cục Quân giới thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Dù cơ sở vật chất thiếu thốn, tổ chức này đã tích hợp nghiên cứu nguyên lý vũ khí, chế tạo mẫu, tổ chức xưởng sản xuất vũ khí phục vụ chiến trường và trực tiếp đào tạo kỹ sư quân giới. Đây là mô hình viện công nghệ tự chủ, đa chức năng xuất hiện từ sớm tại Việt Nam.
  • Giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung: Các viện nghiên cứu được tổ chức theo mô hình phân tầng của Liên Xô, tách rời giữa viện nghiên cứu (chuyên nghiên cứu), trường đại học (chuyên giảng dạy) và nhà máy xí nghiệp (chuyên sản xuất), dẫn đến tình trạng kết quả nghiên cứu không có đầu ra ứng dụng.
  • Giai đoạn kinh tế thị trường: Phân tích sự tự điều chỉnh tự phát của các viện thông qua việc ký kết các hợp đồng kinh tế ngoài ngân sách từ sau năm 1986 và đánh giá tác động của các chính sách đổi mới KH&CN.
  • Nghiên cứu trường hợp điển hình:
    • Viện Dầu khí Việt Nam: Quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn liền với Tập đoàn Dầu khí, kết hợp nghiên cứu khoa học công nghệ dầu khí với cung cấp dịch vụ kỹ thuật cao và tư vấn chiến lược.
    • Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam: Phân tích dữ liệu giai đoạn 2010–2016 về cơ cấu nhân lực (số lượng Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học), số lượng đề tài nghiên cứu cơ bản nhận tài trợ từ Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), các hợp đồng KH&CN nguồn gốc ngoài ngân sách và nguồn thu từ chuyển giao công nghệ.
    • Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên: Minh chứng quá trình tiến hóa cơ cấu tổ chức qua 3 giai đoạn: từ Phòng Hóa học các Hợp chất thiên nhiên phát triển thành Trung tâm Hóa học các hợp chất thiên nhiên và tiến tới thành lập Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên với cơ cấu tích hợp phòng thí nghiệm nghiên cứu chuyên sâu, xưởng sản xuất thực nghiệm và các doanh nghiệp spin-off thương mại hóa sản phẩm.

Chương 4: Điều kiện đảm bảo hiện thực hóa đa dạng chức năng và cơ cấu của tổ chức nghiên cứu và triển khai

Chương này đề xuất hệ thống giải pháp và quy trình chuyển đổi:

  • Điều kiện cần (Quản lý vĩ mô): Nhà nước ban hành và hoàn thiện hệ thống luật pháp bảo đảm quyền tự chủ thực chất, xóa bỏ cơ chế cơ quan chủ quản can thiệp sâu vào hoạt động chuyên môn, đổi mới cơ chế tài chính (chuyển từ cấp phát kinh phí hành chính sang cơ chế quỹ và đặt hàng nhiệm vụ), ưu đãi thuế và đất đai cho các hoạt động sản xuất kinh doanh KH&CN.
  • Điều kiện đủ (Quản lý vi mô): Năng lực quản trị nội bộ của tổ chức NC&TK, tinh thần tự chủ của người đứng đầu, cơ chế phân phối lợi ích kích thích nhà khoa học, năng lực marketing công nghệ và phát triển thương hiệu.
  • Lộ trình chuyển đổi: Đề xuất mô hình chuyển đổi có trật tự qua các nguyên tắc, phương thức và các bước thực thi cụ thể.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Luận giải tổ chức NC&TK dưới góc độ lý thuyết hệ thống: là một hệ thống mở có khả năng tự thích nghi dưới tác động của môi trường kinh tế - xã hội. Luận án chỉ ra tính thích nghi hóa của tổ chức NC&TK trong nền kinh tế thị trường chính là quá trình đa dạng hóa chức năng để hướng tới thiết chế tự chủ.
  • Xác lập luận điểm về mối quan hệ song hành biện chứng: Tái cơ cấu theo hướng đa dạng hóa chức năng, cơ cấu là điều kiện tạo dựng năng lực tự chủ; đồng thời, quyền tự chủ là động lực và hành lang pháp lý để hoàn thiện việc tái cơ cấu. Hai yếu tố này hỗ trợ lẫn nhau, không thể tách rời.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Khái quát hóa lộ trình 6 bước để các tổ chức NC&TK thực hiện tự chủ thành công:
    1. Đa dạng hóa hoạt động: Mở rộng từ nghiên cứu thuần túy sang các hoạt động tư vấn, thử nghiệm, dịch vụ kỹ thuật, sản xuất thử và đào tạo.
    2. Đa dạng hóa chức năng: Chuẩn hóa và thể chế hóa các hoạt động thành các chức năng chính thức trong điều lệ hoạt động của tổ chức.
    3. Đa dạng hóa cơ cấu: Tái lập sơ đồ tổ chức, hình thành các trung tâm ứng dụng, phòng thí nghiệm trọng điểm, vườn ươm, bộ phận chuyển giao và doanh nghiệp khoa học công nghệ trực thuộc.
    4. Đa dạng hóa nguồn tài chính: Giảm dần tỷ trọng ngân sách cấp phát hành chính, gia tăng nguồn thu từ hợp đồng dịch vụ doanh nghiệp, quỹ phát triển KH&CN, tài trợ quốc tế và thương mại hóa sản phẩm.
    5. Đa dạng hóa nguồn nhân lực: Kết hợp linh hoạt giữa biên chế nghiên cứu cốt lõi với cộng tác viên, chuyên gia quốc tế, nghiên cứu sinh, học viên cao học và đội ngũ quản trị kinh doanh công nghệ.
    6. Đa dạng hóa sở hữu: Thiết lập các hình thức sở hữu hỗn hợp, liên doanh liên kết, góp vốn bằng tài sản trí tuệ và hình thành các đơn vị trực thuộc hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
  • Cung cấp luận cứ thực tiễn từ các nghiên cứu trường hợp (Nha Nghiên cứu Kỹ thuật 1947, Viện Hàn lâm KHCNVN, Viện Dầu khí Việt Nam) làm tài liệu tham khảo cho việc hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý KH&CN.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Luận án tập trung khảo sát thực tiễn tại các tổ chức NC&TK công lập thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ (điển hình là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Dầu khí Việt Nam, Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên); chưa đi sâu phân tích đặc thù của các tổ chức NC&TK thuộc khối khoa học xã hội và nhân văn hoặc khu vực ngoài công lập.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế đa dạng hóa chức năng và cơ cấu cho các tổ chức NC&TK thuộc khối ngành khoa học xã hội và nhân văn; nghiên cứu mô hình tự chủ đối với các viện nghiên cứu trực thuộc trường đại học trong bối cảnh tự chủ đại học.

Giá trị tham khảo

Nội dung luận án có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và người làm chính sách KH&CN: Tham khảo Chương 4 về các điều kiện cần ở cấp vĩ mô nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tháo gỡ vướng mắc cho các nghị định về cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập.
  • Lãnh đạo các viện nghiên cứu và tổ chức KH&CN: Tham khảo quy trình 6 bước chuyển đổi và kinh nghiệm cơ cấu lại mô hình phòng ban - trung tâm - doanh nghiệp spin-off từ trường hợp của Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên và Viện Dầu khí Việt Nam.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Quản lý KH&CN, Quản lý công: Sử dụng Chương 2 và Chương 3 làm tài liệu tham khảo về lý thuyết thiết chế tự chủ khoa học, lịch sử phát triển tổ chức R&D tại Việt Nam và phương pháp nghiên cứu tình huống định tính.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao việc chuyển đổi tổ chức KH&CN công lập theo Nghị định 115 trước đây gặp nhiều trở ngại?
Theo phân tích của luận án, nguyên nhân chủ yếu là do các tổ chức chỉ được giao "quyền tự chủ" trên văn bản nhưng bản thân tổ chức chưa kịp xây dựng "năng lực tự chủ" nội sinh. Cơ cấu tổ chức vẫn giữ nguyên mô hình đơn chức năng nghiên cứu, phụ thuộc bao cấp từ thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, thiếu sự đa dạng hóa về hoạt động, chức năng, cơ cấu và tài chính để thích ứng với thị trường.

2. Nha Nghiên cứu Kỹ thuật (1947) đem lại bài học gì cho mô hình viện NC&TK tự chủ?
Nha Nghiên cứu Kỹ thuật chứng minh rằng ngay từ năm 1947, một viện công nghệ của Việt Nam đã vận hành hiệu quả nhờ cơ chế tích hợp đa chức năng: kết hợp nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng, gắn nghiên cứu với thực tiễn sản xuất vũ khí và trực tiếp đào tạo kỹ sư, cán bộ kỹ thuật trong một thiết chế có quyền tự quyết cao về chuyên môn và vận hành.

3. Mối quan hệ giữa "quyền tự chủ" và "năng lực tự chủ" được luận án định nghĩa như thế nào?
Quyền tự chủ là các quyền hạn pháp lý do Nhà nước ban hành và trao cho tổ chức. Năng lực tự chủ là nội lực tự thân của tổ chức để thực thi quyền đó một cách hiệu quả. Nếu chỉ có quyền tự chủ mà không có năng lực tự chủ (thông qua đa dạng hóa chức năng và cơ cấu), quyền tự chủ sẽ bị vô hiệu hóa; ngược lại, nếu có nội lực nhưng thiếu quyền tự chủ, tổ chức sẽ bị kìm hãm bởi rào cản hành chính.

4. Quy trình chuyển đổi sang thiết chế tự chủ của tổ chức NC&TK gồm những bước nào?
Luận án đề xuất quy trình gồm 6 bước tuần tự: (1) Đa dạng hóa hoạt động $\rightarrow$ (2) Đa dạng hóa chức năng $\rightarrow$ (3) Đa dạng hóa cơ cấu $\rightarrow$ (4) Đa dạng hóa nguồn tài chính $\rightarrow$ (5) Đa dạng hóa nguồn nhân lực $\rightarrow$ (6) Đa dạng hóa sở hữu.


Kết luận

Luận án của tác giả Phạm Thị Bích Ngọc đã chứng minh một cách có hệ thống tính tất yếu của việc đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức NC&TK trong thiết chế tự chủ của khoa học. Công trình làm rõ bản chất của quá trình tự chủ hóa là sự chuyển dịch từ tiếp nhận quyền tự chủ thụ động sang xây dựng năng lực tự chủ chủ động thông qua tái cơ cấu toàn diện. Với các dẫn chứng lịch sử và thực tiễn phong phú từ các viện nghiên cứu đầu ngành tại Việt Nam, luận án cung cấp khung cơ sở khoa học và lộ trình 6 bước thực tiễn cho công tác quản trị tổ chức NC&TK cũng như công tác hoạch định chính sách khoa học và công nghệ.