đặt vấn đề. Sau khi nhà trai tìm được ông mối thì lễ ăn hỏi được tiến hành. Thông thường người Thái có ba lần ăn hỏi. Lần ăn hỏi thứ nhất là thưa chuyện.
Thành phần đi có ông mối, chú rể và một đại diện của nhà trai. Lễ vật 8 mang theo gồm hai chai rượu, bánh sừng bò, bánh kẹo, trầu cau. Nhà gái mời ông cậu đến để cùng bàn bạc với nhà trai về hôn nhân. Lần ăn hỏi thứ hai để xin ý kiến nhà gái về cá hua - đó là tiền mặt hoặc số nén bạc trắng mà nhà trai phải mang đến nhà gái, thường thì từ 3-5 nén bạc (1 nén bạc trắng thường có trọng lượng từ 270g đến 310g) và các lễ vật.
Thành phần đi có ông mối, chú rể, 2 người già, 1 nam, 1 nữ. Lễ vật gồm 20 bánh chưng, 10 bánh sừng bò, 2-4 chai rượu, 2 gói trầu cau, 2 con gà, 1 bó chè xanh. Nhà gái mời anh em họ hàng và ông cậu đến dự. Hai bên bàn bạc về tiền thách cưới, các đồ lễ.
Lần ăn hỏi thứ ba, thống nhất về các loại và số lượng lễ vật, cá hua và ngày tháng tổ chức lễ cưới. Số lượng người đi thường từ 6 đến 8 người, trong đó có nam, nữ, già trẻ. Lễ vật gồm 30-40 bánh chưng, 20 bánh sừng bò, 3 gói trầu, 3 gói cau, 4 chai rượu, 2 con gà, 3 kg thịt lợn, 5-10 gắp cá nường. Nhà gái nêu các loại, số lượng lễ vật, cá hua, ông mối có thể xin giảm bớt và lễ cưới nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào khả năng chuẩn bị của nhà trai và nhà gái.
Tuy nhiên, lễ cưới của dân tộc Thái ngày nay đã có nhiều thay đổi, ảnh hưởng và có sự giao thoa trong văn hóa cưới hỏi. Trong bối cảnh hiện nay, sự giao lưu văn hóa diễn ra trên diện rộng, nhiều phong tục tập quán trong đó tập quán cưới hỏi đang có sự chuyển biến mạnh mẽ. Tuy nhiên, qua đó các nghiên cứu trên có thể thấy rằng, mỗi dân tộc đều có những quan niệm cách thức tổ chức cưới hỏi khác nhau, tạo nên sự đa dạng giữa các dân tộc. Những nghiên cứu trên đã phần nào chỉ ra được những điều kiêng kỵ trong phong tục cưới hỏi truyền thống và hiện đại.
Tuy nhiên, việc kiêng kỵ trong cưới hỏi là xuất phát từ nhu cầu tâm lý, thói quen chưa được thay đổi trong suy nghĩ của mỗi người, một phần là do sự kém hiểu biết, mê tín dị đoan trong nếp sông của người dân. Vì vậy, cần có sự tuyên truyền để người dân hiểu rằng những tan vỡ, xung đột trong hôn nhân là xuất phát từ chính hành động, cách ứng xử của những người trong cuộc, là do ảnh hưởng tác động của biến đổi xã hội chứ không phải những điều kiêng kỵ. Biến đổi phong tục cưới hỏi hiện nay Phong tục hôn nhân - cưới hỏi là dấu mốc quan trọng của đời người và đồng thời cũng thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc. Tuy vậy, văn hóa là một phạm trù có sự tiếp biến, nên phong tục hôn nhân của mỗi dân tộc luôn có sự chọn lọc, thay đổi cho phù hợp hơn với thời đại mới, trên cái nền của bản sắc truyền thống.
Sự biến đổi về phong tục cưới hỏi không chỉ nằm ở chỗ giảm lược các bước, mà ngay trong từng nội dung các nghi lễ, các thủ tục cũng có nhiều sự thay đổi (Giang Thị Huyền,2026). Cưới hỏi là một sinh hoạt văn hóa gắn bó với đời sống mỗi con người, mỗi gia đình, trở thành một hoạt động không thể thiếu trong cộng đồng. Thống kê cho thấy đám cưới hiện nay có rất nhiều yếu tố mới xuất hiện kéo theo những biến động phức tạp. Những yếu tố được nhiều người chú ý làm theo là: lễ gia tiên, lễ ăn hỏi, lễ lại mặt, lễ chạm ngõ…còn các yếu tố khác ít được quan tâm.
Như vậy, có thể nói quy trình đám cưới hiện nay tuân thủ 4 yếu tố chính vừa nêu và phù hợp với tập cưới xin của người Việt, dù ở nông thôn hay thành thị. Còn tùy vào từng nhu cầu cụ thể của gia đình, tập tục cụ thể của từng địa phương mà mà đám cưới có thể xuất hiện những yếu tố phụ trợ như: cho của hồi môn, mượn người trải chiếu, lễ tơ hồng…Một điểm đáng chú ý là lệ nộp cheo, dù còn rất ít nhưng vẫn thể hiện sự tác động của lệ tục đối với đời sống tinh thần người nông dân ở một số thôn làng (Tân Việt,2001). Có thể nói, hoạt động cưới hỏi đã có được những bước chyển biến đáng kể, đã tiết kiệm, đỡ tốn kém, gọn gàng, không gây ảnh hưởng phức tạp cho xã hội và theo đời sống mới. Tuy nhiên, hiện nay ngoài sự kết hợp hài hòa cũ mới, hiện tượng cưới xin ở nông thôn đang tái xuất hiện một số yếu tố như ăn uống linh đình, rượu chè, bài bạc…là vấn được tuyên truyền rộng.
Cưới hỏi theo nếp sống mới, dù đang trở thành một vấn đề được tuyên truyền rộng, được cả xã hội quan tâm và đang thấm dần vào đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động, song vẫn còn là vấn đề cần được tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ và có giải pháp cũng như mô hình cụ thể, đặc biệt là ở nông thôn (Hà Nhi,2010). 10 Ngày nay với nền văn minh hiện đại cùng với sự lớn mạnh không ngừng của nước nhà thì tục dựng vợ gả chồng có phần dễ dãi hơn trước. Cha mẹ không còn quyết định chuyện hôn nhân của con cái mà chính con cái phải tự đưa ra quyết định trong việc lựa chọn tìm hiểu và kết duyên với người sẽ sống đời ở kiếp với mình. Vì hôn nhân là kết quả của tình yêu chân thành.
Tình yêu là nhân tố chính dẫn tới một hôn nhân bền vững, một gia đình hạnh phúc phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu. Các nghi lễ vì thế mà cũng đơn giản hơn. Thay vì phải tuân thủ rất nhiều nghi lễ trước khi cưới như: Lễ chạm ngõ, Lễ xin dâu, Lễ ăn hỏi, Lễ đính hôn, Lễ vấn danh, Lễ nạp tài và sau khi cưới lại có Lễ lại mặt, Lễ cheo thì bây giờ chỉ còn lại những lễ chính như Lễ chạm ngõ, Lễ ăn hỏi và Lễ cưới. Tuy nhiên dù tuân theo nghi lễ xưa hay nay thì người Việt Nam đều rất coi trọng hạnh phúc lứa đôi và cuộc sống về sau.
Chính vì thế mà các bậc làm cha mẹ cũng như người thân của hai bên gia đình phải rất kỹ lưỡng trong việc chọn tuổi, chọn ngày, chọn giờ, chọn phòng cưới tất cả phải được chuẩn bị chu đáo để lễ cưới diễn ra suôn sẻ và đặt biệt là đạt được mong ước về một cuộc sống hôn nhân bền vững, thịnh vượng và con cháu đề huề về sau (Lê Ngọc Văn,2000) Nhìn chung, các nghiên cứu về biến đổi phong tục cưới hỏi đã chỉ ra được sự khác biệt ở mỗi thời kỳ xã hội. Tuy nhiên, sự biến đổi phong tục cưới hỏi ở mỗi khu vực, mỗi địa phương đối với điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khác nhau thì biến đổi trong cưới hỏi cũng khác nhau. Qua rất nhiều thế hệ, những nét đẹp văn hóa đó vẫn được chắt lọc và lưu giữ cho đến ngày hôm nay Vì vậy, phong tục cưới hỏi được gìn giữ và phát huy những nét đẹp truyền thống để không bị phai nhạt theo thời gian. Các khái niệm liên quan 2.
Khái niệm phong tục/tập quán Phong tục/tập quán là những thói quen, những quy định được tuân thủ qua nhiều thế hệ của một cộng đồng người, mang tính ổn định, thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện (Trần Ngọc Thêm,2004) 11 Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày. Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất. (Trương Thìn,2007) Trong đề tài, phong tục được hiểu là những thói quen sinh hoạt trong đời sống được cộng đồng thừa nhận và truyền từ đời này sang đời khác, là nét đặc trưng riêng của mỗi cộng đồng, dân tộc.
Khái niệm cưới hỏi Cưới hỏi là một phong tục văn hóa trong hôn nhân nhằm thông báo rộng rãi về sự chấp nhận của xã hội và các bên thành hôn về cuộc hôn nhân (Lê Như Hoa,1998) 12 PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3. Chọn điểm nghiên cứu Xã Mường Báng là một xã nằm cửa ngõ của Huyện Tủa Chùa với tổng số hộ là 1.681 khẩu, bao gồm có 06 dân tộc: kinh 8 hộ = 31 khẩu chiếm 0,72%; Thái 289 hộ = 1.277 khẩu chiếm 26%; Mông 713 hộ = 3. 910 khẩu chiếm 64,17% ; Khơ mú 95 hộ = 435 khẩu chiếm 8,55%; Dân tộc Êđê 5 hộ = 25 khẩu chiếm 0,45%, dân tộc khác 01 hộ = 03 khẩu chiếm 0,09%. Xã được chia thành 13 thôn, bản trong đó có 10 thôn vùng cao, 3 thông vùng thấp.
Trong công tác tư pháp – hộ tịch đã làm tốt công tác tuyên truyền pháp luật và làm tốt công tác hòa giải các vụ mâu thuẫn xảy ra và câc đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân đồng thời cũng làm tốt công tác đăng kí khai sinh, khai từ và đăng kí kết hôn trong năm 2021 đã thực hiện cụ thể: đăng ký kết hôn: 34 trường hợp, xác nhận tình trạng hôn nhân: 35 trường hợp, đăng ký khai sinh: 192 trường hợp Xã Mường Báng là vùng đất quần cư lâu đời của đồng bào dân tộc Thái với nhiều nét văn hóa đặc sắc, tiêu biểu. Công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Thái luôn được Đảng bộ xã Mường Báng quan tâm chỉ đạo thực hiện. Luôn duy trì, gìn giữ, phát huy, tôn vinh nét đẹp truyền thống văn hóa dân gian dân tộc Thái sống mãi với thời gian .