Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ nhân học với đề tài "Cuộc sống của người Việt lao động tự do ở thủ đô Vientiane (Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào)" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Mùi thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Duy Thiệu và PGS.TS. Nguyễn Huy Hoàng, chuyên ngành Nhân học (mã số 9 31 03 02).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng di cư lao động quốc tế từ Việt Nam sang Lào diễn ra liên tục trong lịch sử do vị trí địa lý liền kề và quan hệ chính trị - ngoại giao đặc biệt. Từ năm 2000 trở lại đây, sự gia tăng của hoạt động thương mại biên mậu và các dự án hợp tác đã thúc đẩy dòng người xuất cảnh tìm kiếm sinh kế. Điển hình tại cửa khẩu quốc tế Cầu Treo (tỉnh Hà Tĩnh), trung bình mỗi ngày có hơn 2.000 lượt người và hơn 300 chuyến xe qua lại biên giới để sang Lào hoặc Thái Lan làm thuê. Tuy nhiên, các số liệu quản lý nhà nước và Tổng điều tra dân số trước đây chủ yếu tập trung vào diện di dân lâu dài có đăng ký, bỏ sót đối tượng di chuyển tự do, tạm thời. Trong khi đó, người lao động tự do phải đối mặt với vị thế pháp lý bấp bênh tại Lào, nguy cơ bị xử phạt, trục xuất, thiếu an sinh xã hội và điều kiện sống tạm bợ. Giới nghiên cứu trong nước và quốc tế chưa có công trình nhân học chuyên sâu, tiếp cận toàn diện từ đời sống kinh tế, sinh hoạt xã hội đến thực hành văn hóa của nhóm lao động này trong mối liên hệ giữa nơi xuất cư và nơi nhập cư.
Mục tiêu chung của luận án là dưới góc nhìn Nhân học, nhận diện và làm rõ thực trạng cuộc sống của người Việt lao động tự do ở thủ đô Viêng Chăn; trên cơ sở đó gợi ý các giải pháp cải thiện cơ hội việc làm, đời sống văn hóa – xã hội cho người lao động, đồng thời góp phần củng cố quan hệ Việt Nam – Lào.
Luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu, hệ thống hóa khái niệm, xây dựng khung phân tích và nhận diện các nhân tố thúc đẩy người Việt lao động tự do sang thủ đô Viêng Chăn và Lào tìm kiếm cơ hội việc làm.
- Nhận diện thực tế việc làm, hội nhập kinh tế và các vấn đề an sinh xã hội của người Việt di cư lao động tự do ở thủ đô Viêng Chăn.
- Nhận diện quá trình thích ứng và hội nhập về cuộc sống vật chất cũng như sinh hoạt văn hóa tinh thần của người lao động tại nơi đến.
- Nhận diện mức độ hội nhập và chuyển đổi văn hóa của người Việt di cư lao động tự do trong mối tương quan so sánh với người Lào gốc Việt và Việt kiều.
- Dự báo xu hướng di cư lao động tự do từ các kết quả thực tiễn và đề xuất các hàm ý chính sách trong quan hệ Việt Nam – Lào.
Đối tượng nghiên cứu là cuộc sống của người Việt (dân tộc Kinh) lao động tự do tại thủ đô Viêng Chăn. Luận án phân loại lao động người Việt tự do tại đây thành 4 nhóm theo tiêu chí nghề nghiệp:
- Nhóm 1: Người làm việc trong các công ty, nhà xưởng, công trình nhận thầu, dự án đầu tư hoặc dự án ODA của Việt Nam tại Lào (ước tính chiếm khoảng 30%).
- Nhóm 2: Người tự đầu tư vốn kinh doanh (chủ thầu xây dựng, công ty tư nhân, nhà hàng, khách sạn, phòng khám) (ước tính chiếm khoảng 30%).
- Nhóm 3: Người làm dịch vụ cơ động, lao động phổ thông, buôn bán nhỏ ở chợ, bán hàng rong, thu gom phế liệu hoặc các công việc 3D (nguy hiểm/dangerous, khó khăn/difficult, bẩn thỉu/dirty) (ước tính chiếm khoảng 30%).
- Nhóm 4: Lao động di cư mùa vụ, di cư con lắc qua lại biên giới theo ngày hoặc tuần.
Trong 4 nhóm trên, phạm vi đối tượng được luận án lựa chọn đi sâu khảo sát là Nhóm 1 và Nhóm 3, với tiêu chuẩn cư trú tại Lào tối thiểu 3 tháng để đảm bảo đã có sự thích ứng nhất định. Hoạt động mại dâm không được lựa chọn nghiên cứu do khó tiếp cận.
Phạm vi không gian nghiên cứu:
- Nơi nhập cư: Thủ đô Viêng Chăn gồm 9 mương (Chantabuly, Sikhottabong, Saysetha, Sisattanak, Hadxaifong, Mayparkngum, Naxaithong, Sangthong, Xaythany); có so sánh đối chiếu với các tỉnh Luổng Phạ Bang, Bò Kẹo, Xiêng Khoảng, Hủa Phăn.
- Nơi xuất cư: Xã Diễn Tháp, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An – địa phương thuần nông chuyển đổi thành công nhờ có tỷ lệ người dân sang Lào lao động tự do chiếm tỷ trọng lớn.
Phạm vi thời gian: Tập trung giai đoạn 2013 – 2019, gắn liền với các mốc chính sách quan trọng như Nghị định 03/CP (2011) và Chỉ thị 62/TTg (2015) của Thủ tướng Chính phủ Lào về quản lý lao động nước ngoài, cùng sự kiện thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) cuối năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã tổng quan hệ thống tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm chủ đề chính:
Thứ nhất, về loại hình, động lực và xu hướng di cư lao động: Các tác giả quốc tế như Chantavanich S., Reiko Harima, Rex Varona, Christina DeFalco (2003) phân tích tình trạng thiếu giấy tờ hợp pháp của lao động di cư tiểu vùng Mekong; Guitur Sugiyarto và Dovelyn Rannveig Agunias (2014) chỉ ra hạn chế của Cộng đồng kinh tế ASEAN khi lao động có kỹ năng dịch chuyển chỉ chiếm 23%, trong khi dòng lao động phổ thông chưa được giải quyết; Benjamin (2018) và Ngân hàng Thế giới (2008) ước tính dòng di cư nội khối ASEAN đạt gần 6,9 triệu người. Ở trong nước, báo cáo của Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao, IMO và EU (2001, 2011) phác thảo bức tranh tổng thể về di cư quốc tế của người Việt; Nguyễn Văn Chính (2021) phân tích vai trò của người môi giới trong di cư xuyên biên giới; Vương Xuân Tình (2011, 2012), Bùi Xuân Đính và Nguyễn Ngọc Thanh (2014), Lý Hành Sơn (2011), Phạm Thu Hà (2012) khảo sát các luồng di cư mùa vụ qua biên giới Việt - Trung, Việt - Lào, Việt - Campuchia của các tộc người thiểu số.
Thứ hai, về cơ hội việc làm, thu nhập và kiều hối: Nancy Huyen Nguyen và John Walsh (2014) phân tích tác động giảm áp lực thất nghiệp nông thôn khi người Việt sang Thái Lan; Phetthanou Theopphayphone (2005) khảo sát thu nhập và tích lũy của phụ nữ di cư; các học giả phái Kinh tế học mới về di cư như Taylor (1996), Adams và cộng sự (2003), Berne (2004), Aung Set (2009) khẳng định ý nghĩa sinh kế của kiều hối đối với hộ gia đình nông thôn. Tại Việt Nam, Nguyễn Minh Hoàng (2015) lột tả đời sống bấp bênh của lao động tự do tại Anh; Phạm Thị Mùi (2014a, 2014b) mô tả hoạt động buôn bán của người Việt tại Luổng Phạ Bang; Bouathong Vilaphan (2019) nghiên cứu nhóm lao động người Việt làm công nhân và buôn bán tại làng Thạt Luổng (Viêng Chăn).
Thứ ba, về đời sống xã hội và điều kiện an sinh: Johannes Pflegerl và cộng sự (2003) nêu rõ tình trạng nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh và sang chấn tâm lý do lo sợ bị bắt giữ; Harima, Varona và DeFalco (2003) phản ánh rào cản chi phí y tế và sự kỳ thị bệnh tật đối với lao động di cư; Nguyễn Song (2016) vận dụng lý thuyết thị trường lao động kép để phân tích bất bình đẳng giới và an sinh xã hội của lao động nam hồi hương.
Thứ tư, về đời sống văn hóa, tôn giáo và chính sách: Các nghiên cứu phương Tây của El Hamel (2002), Richard Gale (2002), Petra Kuppinger (2014), Thijil Sunier (2014), Steven Slaubaugh (2019) tập trung vào tôn giáo người di cư Hồi giáo và Kitô giáo tại châu Âu; Leo Suryadinata (2004) nghiên cứu sự tiếp biến văn hóa của người Hoa ở Đông Nam Á. Trong nước, Nguyễn Duy Thiệu (chủ biên, 2008) và Nguyễn Duy Thiệu cùng Amthilo Latthanhot (2008) phân tích sự thích ứng văn hóa và rào cản pháp lý của người Việt định cư lâu đời tại Lào; Nguyễn Thị Phương Châm (2006) nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ ở làng Vạn Vĩ (Trung Quốc); Nguyễn Hồng Quang phân tích sự bảo lưu văn hóa của người Việt tại Thái Lan; Nguyễn Văn Thoàn (2019) khảo sát thực hành tôn giáo của tăng ni phật tử tại Lào. Về chính sách, Bruno Maltoni (2005), Yekti Maunati (2008), Awatsaya Panam (2005) khảo sát khung pháp lý quản lý lao động nước ngoài tại các nước tiếp nhận.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định và tập trung giải quyết gồm: Các công trình trước đây đa phần tiếp cận đơn lẻ từng khía cạnh, chưa có nghiên cứu chuyên sâu xem xét tổng thể đời sống vật chất, xã hội và văn hóa tinh thần của nhóm lao động tự do tại Viêng Chăn; phần lớn các nghiên cứu chỉ phân tích tại điểm đến mà cắt đứt mối liên hệ với địa bàn xuất cư; các đề xuất chính sách trước đây thường tiếp cận theo chiều từ trên xuống (top-down) từ góc độ cơ quan quản lý, trong khi luận án tiếp cận từ dưới lên (bottom-up), khai thác trực tiếp "tiếng nói của người di cư" để phản ánh nhu cầu và bảo đảm quyền lợi thực tế của họ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng ba khung lý thuyết chuyên ngành:
- Lý thuyết Lực hút – Lực đẩy (Pull - Push Theory) của Everett S. Lee (1966): Phân tích nguyên nhân chuyển dịch lao động dựa trên 4 nhóm nhân tố: lực đẩy nơi xuất cư (thiếu đất canh tác, thiếu việc làm, mật độ dân số cao, thiên tai, thu nhập thấp tại miền Trung Việt Nam); lực hút nơi nhập cư (nhu cầu lao động phổ thông phục vụ công nghiệp hóa, mức thu nhập cao hơn, cơ hội kinh doanh tại Viêng Chăn); yếu tố cá nhân (độ tuổi lao động, tình trạng hôn nhân, trách nhiệm nuôi dưỡng gia đình); các yếu tố trở ngại trung gian (khoảng cách địa lý 2.337,459 km đường biên giới, hệ thống giao thông quốc lộ 7, 8, 14D, rào cản ngôn ngữ, chi phí cư trú, thủ tục cấp phép lao động của Lào).
- Lý thuyết Mạng lưới xã hội (Social Network Theory) và khái niệm Vốn xã hội (Social Capital) của James Coleman: Luận giải cách thức người lao động tự do dựa vào quan hệ thân tộc, đồng hương, bạn nghề để tiếp cận thông tin việc làm, hỗ trợ chỗ ở, tương trợ tài chính (cho vay không tính lãi, chơi phường/họ) và thiết lập quan hệ với chính quyền sở tại, giảm thiểu rủi ro pháp lý.
- Lý thuyết Chuyển đổi văn hóa (Culture Change Theory) của Dennis O'Neil, kết hợp mô hình ba giai đoạn của Kurt Lewin (Bất ổn định - Biến đổi - Tái ổn định) và lý thuyết thích ứng văn hóa: Phân tích sự biến đổi phương thức sinh kế, thói quen ăn ở, ngôn ngữ và thực hành tôn giáo tín ngưỡng khi tái định cư, làm rõ hiện tượng người lao động thực hành song song hai nền văn hóa (văn hóa quê gốc và văn hóa Lào).
Về phương pháp nghiên cứu, luận án phối hợp phương pháp định tính (chủ đạo) và định lượng (bổ trợ):
- Điền dã dân tộc học: Thực hiện nguyên tắc "ba cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc) qua 3 đợt khảo sát thực địa: tháng 10/2016 tại Viêng Chăn; tháng 01/2019 tại xã Diễn Tháp (Nghệ An); tháng 12/2019 tại Viêng Chăn. Tác giả sử dụng các kỹ thuật:
- Quan sát tham gia tại chợ, bến bãi, công trường xây dựng, nơi ở trọ và các chùa chiền.
- Phỏng vấn nhóm tập trung: Tiến hành 8 cuộc phỏng vấn với 8 nhóm (quy mô 6 - 8 người/nhóm), phân tách đồng nhất theo ngành nghề (công nhân dự án và dịch vụ 3D), giới tính (nam, nữ) và độ tuổi (18 - 30 tuổi và 31 - 55 tuổi).
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện trên 30 cá nhân (bao gồm 8 cá nhân chọn từ các cuộc phỏng vấn nhóm) với thời lượng 45 - 60 phút mỗi cuộc.
- Phương pháp "câu chuyện cuộc sống" (life story) nhằm ghi nhận cảm nhận, mong muốn từ chính chủ thể văn hóa.
- Nghiên cứu định lượng: Sử dụng bảng hỏi khảo sát với dung lượng mẫu N = 96 người, chọn mẫu định mức phân tầng theo nghề nghiệp, giới tính và độ tuổi:
| Nhóm nghề nghiệp |
Nhóm tuổi 18 – 30 |
Nhóm tuổi 31 – 55 |
Tổng cộng |
| Công nhân công ty / dự án Việt Nam (Nhóm 1) |
12 nam / 12 nữ |
12 nam / 12 nữ |
48 người (24 nam, 24 nữ) |
| Lao động dịch vụ cơ động 3D (Nhóm 3) |
12 nam / 12 nữ |
12 nam / 12 nữ |
48 người (24 nam, 24 nữ) |
| Tổng số mẫu điều tra |
24 nam / 24 nữ |
24 nam / 24 nữ |
96 người |
Dữ liệu định lượng được phân tích đơn biến và hai biến (tương quan giữa loại hình nghề nghiệp với thu nhập, chi dùng, mạng lưới xã hội) và tính tỷ lệ phần trăm thủ công để minh chứng cho các phân tích định tính.
- Nguồn tư liệu: Kết hợp dữ liệu sơ cấp thực địa với tài liệu thứ cấp từ văn bản quy phạm pháp luật của hai nhà nước, số liệu thống kê hành chính cấp bản, mương của Lào và báo cáo kinh tế - xã hội năm 2018 của UBND xã Diễn Tháp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương này làm rõ cơ sở lý thuyết, lược sử nghiên cứu, phương pháp luận và bức tranh thực địa tại hai đầu xuất cư và nhập cư. Ở phía xuất cư, tác giả phân tích áp lực dân số Việt Nam (đạt trên 98 triệu người vào tháng 7/2021, mật độ dân số 317 người/km2, tập trung 29,2% ở đồng bằng sông Hồng và 24,1% ở miền Trung), đất canh tác hạn hẹp, thiếu việc làm nông thôn. Điển hình tại xã Diễn Tháp (huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) có diện tích tự nhiên 3,88 km2, đất trũng "chiêm khê mùa thối" năng suất thấp, người dân phát triển nghề đúc đồng, nhôm rồi mở rộng sang thu gom phế liệu và buôn bán hàng tiêu dùng sang Lào. Xã có 1.600 người lao động tại Lào (chiếm 26% dân số xã), trong khi chỉ có 50 lao động đi các nước khác; toàn xã có hơn 40 đại lý thu gom và cung cấp hàng hóa đi Lào. Ngược lại, phía nhập cư là thủ đô Viêng Chăn với 9 mương đang mở rộng hạ tầng, tạo sức hút mạnh mẽ đối với lao động phổ thông.
| Danh mục nguồn thu xã Diễn Tháp năm 2018 |
Giá trị (đồng) |
Tỷ trọng (%) |
| Dịch vụ thương mại (buôn bán, đại lý đi Lào) |
300.000.000.000 |
83,92% |
| Xây dựng cơ bản tư nhân |
15.000.000.000 |
4,20% |
| Nông nghiệp |
16.000.000.000 |
4,48% |
| Thu ngân sách |
14.000.000.000 |
3,92% |
| Chính sách xã hội |
11.000.000.000 |
3,08% |
| Hỗ trợ công trình cấp trên (trường học) |
15.000.000.000 |
4,20% |
| Tổng giá trị thu nhập toàn xã |
357.000.000.000 |
100% |
Số liệu cho thấy nguồn thu từ dịch vụ thương mại liên quan đến thị trường Lào chiếm gần 84% cơ cấu kinh tế của xã Diễn Tháp, thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 53 triệu đồng/năm (khoảng 4,4 triệu đồng/tháng), đưa một xã thuần nông nghèo thành xã khá giả.
Chương 2: Cơ hội việc làm của người Việt lao động tự do ở thủ đô Viêng Chăn
Chương 2 mô tả chi tiết các loại hình việc làm: thợ hồ, thợ xây dựng, thợ cơ khí, kinh doanh tạp hóa, bán hàng rong, thu mua đồng nát. Thu nhập của người lao động tự do cao hơn đáng kể so với canh tác tại quê nhà, song chịu sự điều tiết của chi phí sinh hoạt đô thị. Chương luận giải cấu trúc chi tiêu (Bảng 4, 5, 6 trong văn bản về giá điện nước, tiền thuê phòng trọ, thực phẩm) và mục đích sử dụng kiều hối gửi về Việt Nam (Bảng 7: cải tạo nhà ở, đầu tư kinh doanh, nuôi con học tập). Về tính dễ tổn thương trong công việc, tác giả phân tích rủi ro từ việc không có hợp đồng lao động chính thức, tiền lương bị chủ sử dụng trì hoãn hoặc cắt giảm, nguy cơ tai nạn lao động không được bảo hiểm chi trả, cùng áp lực thường trực trước các đợt kiểm tra đăng ký cư trú theo Nghị định 03/CP và Chỉ thị 62/TTg của chính quyền Lào.
Chương 3: Hội nhập đời sống xã hội của người Việt lao động tự do ở thủ đô Viêng Chăn
Chương này xem xét điều kiện sinh hoạt vật chất, dịch vụ y tế, giáo dục và vai trò của mạng lưới xã hội. Về nơi ở, người lao động thường thuê các phòng trọ ẩm thấp, chật chội, sinh hoạt khép kín theo nhóm đồng hương nhằm hạ thấp tối đa chi phí. Về chăm sóc sức khỏe, do không có bảo hiểm y tế và chi phí khám chữa bệnh tại Lào cao, người lao động phần lớn chọn giải pháp tự mua thuốc điều trị khi ốm đau thông thường và chỉ đến cơ sở y tế khi bệnh biến chuyển nặng; con cái đi theo bố mẹ gặp nhiều khó khăn về thủ tục học tập. Về mạng lưới xã hội, chương phân tích các số liệu thực chứng từ Bảng 8, 9, 10: người lao động duy trì mối liên hệ chặt chẽ với cộng đồng đồng hương Việt Nam thông qua việc chia sẻ công việc, dòng quà tặng, tổ chức chơi họ/phường để tương trợ tài chính, đồng thời tạo lập vốn xã hội với người dân bản xứ và chính quyền địa phương để đảm bảo sự ổn định cư trú.
Chương 4: Đời sống văn hóa của người Việt lao động tự do ở thủ đô Viêng Chăn
Chương 4 khảo sát hoạt động hưởng thụ văn hóa, sinh hoạt tâm linh và mức độ chuyển đổi văn hóa. Người lao động di cư vẫn duy trì bản sắc văn hóa dân tộc thông qua thờ cúng tổ tiên tại phòng trọ, đón Tết Nguyên đán cổ truyền, đến các ngôi chùa người Việt tại Viêng Chăn (chùa Bàng Long, chùa Phật Tích). Đồng thời, họ hòa nhập vào sinh hoạt văn hóa địa phương bằng việc tham dự tết té nước Bunpimay, thăm viếng các chùa tháp của Lào, sử dụng tiếng Lào trong giao tiếp hàng ngày và mặc trang phục truyền thống Lào trong các dịp lễ hội. Tác giả chỉ ra rằng mức độ tiếp biến văn hóa của nhóm lao động tự do là sự thực hành văn hóa kép (song hành văn hóa gốc và văn hóa nơi đến), có sự khác biệt rõ rệt so với mức độ hội nhập sâu của người Lào gốc Việt và nhóm Việt kiều định cư lâu năm.
Chương 5: Một số vấn đề đặt ra, xu hướng và giải pháp cơ bản cải thiện cuộc sống của người Việt lao động tự do
Chương 5 hệ thống hóa các vấn đề tồn tại như vị thế pháp lý bất hợp pháp, nguy cơ bị trục xuất, sự thiếu hụt an sinh xã hội và xung đột kinh tế cục bộ. Tác giả phân tích các dòng dịch chuyển lao động khu vực (Bảng 11) trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và quan hệ đối tác Việt - Lào mới. Từ đó, luận án đề xuất các giải pháp hướng tới hoàn thiện chính sách:
- Cấp chính phủ hai nước: Đàm phán, sửa đổi và hoàn thiện các thỏa thuận hợp tác lao động song phương; xây dựng cơ chế cấp phép lao động tạm thời với thủ tục giản tiện, chi phí hợp lý phù hợp với đặc thù lao động phổ thông tự do.
- Cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại Lào: Tăng cường công tác quản lý công dân, phối hợp bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, hỗ trợ pháp lý và y tế khi xảy ra tranh chấp hoặc tai nạn.
- Địa phương nơi xuất cư: Quản lý và cung cấp thông tin thị trường lao động tại Lào cho người dân; hướng dẫn việc chuyển kiều hối an toàn và hỗ trợ người lao động tái hòa nhập bền vững khi hồi hương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận:
- Luận án đã xây dựng khung phân tích nhân học hoàn chỉnh về di cư lao động tự do quốc tế, kết hợp liên ngành giữa lý thuyết Lực hút – Lực đẩy, lý thuyết Mạng lưới xã hội và lý thuyết Chuyển đổi văn hóa, đặt trong mối liên hệ khép kín giữa cộng đồng xuất cư và cộng đồng nhập cư.
- Đưa ra tiêu chí và phân loại cụ thể người Việt lao động tự do ở thủ đô Viêng Chăn thành 4 nhóm theo ngành nghề, xác lập cơ sở khoa học để nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa nhóm lao động dự án (Nhóm 1) và nhóm dịch vụ cơ động 3D (Nhóm 3).
- Áp dụng phương pháp tiếp cận từ "tiếng nói của chủ thể văn hóa" (người di cư), khai thác các câu chuyện cuộc đời để phản ánh chân thực nhận thức, mong muốn và các cơ chế thích ứng văn hóa kép của người lao động.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp hệ thống dữ liệu điền dã dân tộc học phong phú, cập nhật trong giai đoạn 2013 – 2019 về thực trạng việc làm, mức thu nhập, cơ cấu chi tiêu sinh hoạt, các mối quan hệ an sinh và đời sống tín ngưỡng của người Việt lao động tự do tại thủ đô Viêng Chăn.
- Cung cấp bức tranh thực tế về biến đổi kinh tế - xã hội tại địa bàn xuất cư (xã Diễn Tháp, Nghệ An), làm rõ vai trò của kiều hối và mạng lưới dịch vụ buôn bán đi Lào trong việc chuyển biến đời sống nông thôn.
- Đề xuất các căn cứ khoa học xuất phát từ thực tiễn để hai chính phủ Việt Nam và Lào tham khảo trong việc xây dựng, điều chỉnh chính sách xuất nhập cảnh, quản lý lao động ngoại kiều, thỏa thuận hợp tác lao động và chính sách bảo hộ công dân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án tự xác định các điểm sau do đặc thù địa bàn và nguồn lực:
- Chưa thể tiếp cận và nghiên cứu nhóm phụ nữ di cư làm nghề mại dâm (thuộc Nhóm 3) do tính chất nhạy cảm, phức tạp về pháp lý và hạn chế về thời gian thực địa.
- Dung lượng mẫu khảo sát định lượng dừng lại ở mức 96 phiếu mang tính chất bổ trợ cho nghiên cứu định tính, chưa thể đại diện cho toàn bộ số lượng lao động tự do đang làm việc tại Lào.
- Địa bàn khảo sát thực địa chuyên sâu mới tập trung chủ yếu ở thủ đô Viêng Chăn; tư liệu tại các tỉnh khác (Luổng Phạ Bang, Bò Kẹo, Xiêng Khoảng, Hủa Phăn) chỉ dừng ở mức độ so sánh đối chiếu sơ bộ, chưa bao quát được các tỉnh khu vực Trung và Nam Lào.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở:
- Mở rộng phạm vi khảo sát tới các nhóm ngành nghề nhạy cảm khác của người di cư khi có điều kiện thời gian và phương thức tiếp cận phù hợp.
- Tăng quy mô mẫu định lượng trên diện rộng và mở rộng khảo sát so sánh sang các địa bàn có đông người Việt lao động tự do tại khu vực Nam Lào hoặc biên giới Thái Lan - Lào.
Giá trị tham khảo
Nghiên cứu có giá trị tham khảo cụ thể đối với các đối tượng:
- Giới nghiên cứu, nghiên cứu sinh và giảng viên các ngành Nhân học, Xã hội học, Dân tộc học và Quan hệ quốc tế: Có thể tham khảo khung phân tích kết hợp giữa mạng lưới xã hội và biến đổi văn hóa; quy trình triển khai phương pháp điền dã dân tộc học "ba cùng", phỏng vấn sâu dắt dây và thu thập chuyện kể cuộc sống đối với nhóm xã hội yếu thế có vị thế pháp lý nhạy cảm.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao, Cục Lãnh sự, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Đại sứ quán Việt Nam tại Lào): Có thêm cứ liệu thực chứng từ cơ sở để đàm phán, rà soát các hiệp định lao động song phương Việt - Lào, xây dựng cơ chế quản lý xuất nhập cảnh thuận lợi và tổ chức các mạng lưới bảo hộ công dân hiệu quả.
- Chính quyền các địa phương có đông lao động xuất cư (như tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình): Tham khảo mô hình chuyển đổi sinh kế của xã Diễn Tháp, xây dựng phương án định hướng nghề nghiệp, hỗ trợ quản lý kiều hối và chuẩn bị điều kiện an sinh cho lao động hồi hương.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia người Việt lao động tự do ở thủ đô Viêng Chăn thành những nhóm nào và đối tượng nào là trọng tâm khảo sát?
Luận án phân chia thành 4 nhóm theo nghề nghiệp: Nhóm 1 là lao động làm việc trong các công ty, xưởng sản xuất, dự án nhận thầu hoặc ODA của Việt Nam tại Lào (~30%); Nhóm 2 là người tự đầu tư vốn kinh doanh dịch vụ, cửa hàng, công ty tư nhân (~30%); Nhóm 3 là người làm dịch vụ cơ động, buôn bán nhỏ, lao động phổ thông 3D (~30%); Nhóm 4 là lao động di cư mùa vụ, con lắc qua biên giới. Trọng tâm nghiên cứu của luận án là Nhóm 1 và Nhóm 3, với tiêu chuẩn đã ở lại Lào tối thiểu 3 tháng.
2. Tại sao xã Diễn Tháp (huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) được lựa chọn làm địa bàn khảo sát đại diện cho nơi xuất cư?
Xã Diễn Tháp được chọn vì đây là điển hình của việc chuyển đổi sinh kế thông qua di cư sang Lào. Từ một xã nghèo thuần nông với đất đai trũng ngập "chiêm khê mùa thối", người dân đã sang Lào thu gom phế liệu và buôn bán hàng tiêu dùng, với 1.600 người đi làm việc tại Lào (chiếm 26% dân số xã). Nguồn thu từ dịch vụ thương mại liên quan đến Lào năm 2018 đạt 300 tỷ đồng (chiếm gần 84% tổng giá trị thu nhập toàn xã), tạo nên sự thay đổi căn bản đời sống địa phương.
3. Quy mô và cơ cấu mẫu điều tra định lượng của luận án được thiết kế như thế nào?
Mẫu định lượng gồm 96 người, được chọn mẫu định mức dựa trên ba chiều kích: nghề nghiệp, giới tính và độ tuổi. Mẫu chia đều cho 2 nhóm nghề (48 người nhóm công ty/dự án Việt Nam, 48 người nhóm dịch vụ 3D). Trong mỗi nhóm nghề gồm 24 nam và 24 nữ; phân đều thành 12 người ở độ tuổi 18 – 30 và 12 người ở độ tuổi 31 – 55. Dữ liệu bảng hỏi được phân tích đơn biến, hai biến và tính tỷ lệ phần trăm thủ công nhằm bổ trợ cho điền dã định tính.
4. Những rủi ro và tính dễ tổn thương lớn nhất của người Việt lao động tự do tại Viêng Chăn được luận án chỉ ra là gì?
Rủi ro lớn nhất là vị thế cư trú và lao động không chính thức do thiếu giấy phép lao động hợp pháp theo quy định của Lào (như Nghị định 03/CP và Chỉ thị 62/TTg), dẫn đến nguy cơ bị phạt tiền hoặc trục xuất bất cứ lúc nào. Bên cạnh đó, người lao động dễ bị chủ sử dụng ép lương, nợ lương, không có hợp đồng, không được hưởng bảo hiểm y tế, tự chi trả điều trị bệnh tật với chi phí cao và điều kiện nhà ở trọ chật hẹp, tạm bợ.
5. Luận án vận dụng những lý thuyết chuyên ngành nào để giải thích đời sống của người di cư?
Luận án vận dụng 3 lý thuyết chính: Lý thuyết Lực hút – Lực đẩy của Everett S. Lee (giải thích động lực di cư từ bối cảnh kinh tế - xã hội nơi xuất cư và nơi nhập cư); Lý thuyết Mạng lưới xã hội của trường phái Nhân học chức năng kết hợp khái niệm Vốn xã hội của James Coleman (giải thích sự tương trợ việc làm, nhà ở, vay tiền, chơi họ/phường); và Lý thuyết Chuyển đổi văn hóa của Dennis O'Neil cùng mô hình thích ứng văn hóa (giải thích sự thích ứng sinh kế và việc thực hành song song hai nền văn hóa Việt - Lào).
Kết luận
Luận án của tác giả Phạm Thị Mùi là công trình nghiên cứu nhân học chuyên sâu về cuộc sống của người Việt lao động tự do tại thủ đô Viêng Chăn trong giai đoạn 2013 – 2019. Bằng phương pháp điền dã dân tộc học kết hợp khảo sát định lượng bổ trợ, luận án đã làm rõ các chiều kích sinh kế, điều kiện sinh hoạt xã hội, tính dễ tổn thương và sự thích ứng văn hóa của người lao động trong mối liên hệ mật thiết giữa nơi đi (xã Diễn Tháp, Nghệ An) và nơi đến. Khung phân tích liên ngành cùng nguồn tư liệu thực chứng phong phú của luận án cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách quản lý lao động di cư và thúc đẩy quan hệ hợp tác đặc biệt Việt Nam – Lào.