Chương 1: Khái quát tình hình huyện Phú Riéng trước năm 1965 Chương 2: Hoạt động dau tranh chống Mi xâm lược của quan va dan huyện Phú Riéng (tinh Bình Phước) phối hợp với một số huyện lan cận giai đoạn 1965 — 1975 Chương 3: Đặc điểm, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của cuộc dau tranh chống Mĩ xâm lược của quân va din huyện Phú Riêng giai đoạn 1965 — 1975 CHUONG 1. KHÁI QUAT TINH HÌNH HUYỆN PHU RIENG TRƯỚC NĂM 1965 1. Khái quát điều kiện tự nhiên, dân cư - xã hội 1. Điều kiện tự nhiên Phú Riêng là huyện nằm ở trung tâm của tỉnh Bình Phước, phía đông giáp huyện Bù Đăng, phía tây giáp huyện Hớn Quản và huyện Lộc Ninh, phía bắc giáp thị xã Phước Long và huyện Bù Gia Mập, địa hình thấp dan vẻ phía nam.
Tong điện tích tự nhiên 67. (Đảng bộ Bình Phước - Ban chấp hành Đảng bộ huyện Phú Riêng. 11) cơ cấu hành chính gồm có 10 xã, với 89 thôn. Tổng dân số 93,577 nhân khẩu (trong đó đồng bảo dân tộc thiểu số chiếm 11,85%), có 4 tôn giáo chính: Phat giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành và Hỏi giáo.
Hệ thống chính trị cơ sở được kiện toàn và hoạt động có hiệu quả, quốc phòng — an ninh được giữu vững (Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Phước - Ban Chỉ huy Quân sự huyện Phú Riêng. Khí Hậu của huyện Phú Riềng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng của vùng Đông Nam Bộ. Trong năm, khí hậu phân thành hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch, lượng mưa khá cao, trung bình khoảng 2.
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ thấp nhất 24°C, nhiệt độ cao nhất là 27,4°C nhiệt độ trung bình trong năm 26,10°C. Độ âm thấp nhất 22% vào mùa khô và cao nhất đạt 100% vào mùa mưa, độ 4m trung bình hằng năm: 70% (Đảng bộ tinh Bình Phước — Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phú Riêng. Luong mua hang năm kéo dai từ 6 — 7 tháng, là nguồn cung cap nước ngọt chủ yếu phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn.
Trên địa bàn Phú Riéng chủ yếu có các con suôi nhỏ. Ngoài ra, huyện còn có hệ thống h6, bau cung cấp một phần nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của người dan (Dang bộ tinh Bình Phước — Ban chap hành Đảng bộ huyện Phú Riêng. Về dat đai, huyện Phú Riéng sở hữu dat bazan, nâu xám, phù hợp cho việc trồng cây công nghiệp nhiệt đới. Các loại cây như cao su.
tiêu, điều, cà phê được trồng phô biến và mang lại giá trị kinh tế cao. Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo của huyện, § với việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp. đóng góp vào xuất khâu hàng hóa quan trọng của địa phương. Tuy nhiên, việc trồng rau, hoa màu chỉ được thực hiện trong mùa mưa và mang lại hiệu suất thấp.
Hệ thống giao thông của huyện Phú Riêng được đầu tư và phát triển, trong đó có trục đường số 2 (nay la DT741) dai hơn 20km nối thành phố Đông Xoài với thị xã Phước Long được thực dân Pháp xây dựng đầu thế kỷ XX nhằm mục đích khai thác cao su và phục vụ chiến tranh. Ngày nay, đường DT741 là cầu nối với các thị trường lớn như Bình Dương, thành phô Hỗ Chí Minh, Đồng Nai. Đây là con đường có ý nghĩa quan trọng tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Ngoài ra, còn có tuyến Đường DT 753b (còn được gọi là DH312) dài 9.6km kết nối từ ngã tư xã Phú Riểng đi qua xã Phú Trung nối với Quốc lộ 14.
Bên cạnh đó, Phú Riéng còn là hệ thong đường liên xã, liên thôn được nhựa hóa và bê tông hỏa nỗi liền với các xã trong và ngoài huyện tạo thành một mạng lưới giao thông thuận lợi cho việc đi lại cũng như việc giao lưu, trao đôi hàng hóa với các địa phương (Bộ Chỉ huy Quân sự tinh Bình Phước — Ban Chi huy Quân sự huyện Phú Riêng. Hệ thống điện lưới trên địa ban huyện đã hoàn thiện với tat cả các xã, thôn đều sử dụng mạng lưới điện quốc gia cung. Thông tin liên lạc phát trién ở khu vực trung tâm của xã, hoặc các điểm dân cư dọc theo các trục giao thông chính. Mạng lưới viễn thông phát trién mạnh góp phan phủ sóng điện thoại khắp xã, thôn đáp ứng nhu cầu trao đôi thông tin của người dân.
Điều này góp phan vào sự phát triển bền vững của huyện Phú Riéng. Đặc điểm dân cư - xã hội Vùng đất Phú Riéng nói riêng và vùng Nam Bộ nói chung, vào cuối thế ki XVI, về cơ bản, vẫn là vùng đất hoang vu chưa được khai phá. Song, qua các đi chỉ khảo cô học dat đắp dạng tròn trên địa bàn, có thé thấy vào thời tiền sử, ở vùng đất này đã có con người đến cu tra, chủ yếu là người Xtiêng cũng một số ít người Ma, Mnông, Khmer. Họ sống rài rác theo từng buôn, sóc và sống dựa vào săn bắt, hái lượm, làm nương ray, tia lúa theo phương thức du canh, du cư.
Người Xtiêng là những người có công khai phá vùng núi Bà Ra (Đảng bộ tinh Bình Phước — Ban chấp hành Dang bộ huyện Phú Riêng. Trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, trên vùng đất rộng lớn vùng biên giới bao gồm: Phước Long, Bd Gia Map, Bd Dốp, Lộc Ninh, Phú Riéng mới chỉ có một số it dong bảo dân tộc thiêu số sinh sống. Họ song tập trung thành từng phum. sóc dọc theo các con sông, con suối, với hoạt động kinh tế chủ yếu là trong lúa, bắt, trong bông, săn bắt hái lượm.
(Dang bộ tinh Bình Phước — Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phú Riêng, 2020. Người Xtiéng chiếm số lượng dân cư lớn nhất va sinh sông ở đây lâu đời nhất. Họ sống tập trung, gồm một số gia đình trong một sóc nhỏ. Đồng bào Xtiéng tin vào Giàng (ông Trời) nên trong mọi quan hệ xã hội hoặc khi gặp ôm đau, hay thiên tai địch hoa, đồng bảo điều xin giảng phủ hộ.
Trước kia, họ sông trong những ngôi nhà sàn. Nhà sàn của người Xtiêng dài và thấp. Họ dùng gỗ tốt không mối mọt làm cột kẻo, xuyên trính, rang buộc nhau thanh sợi mây, lợp lá tranh. Trong mỗi nha san đều có một số gia đình nhỏ ở chung theo quan hệ anh em ruột thịt; nơi ở của từng gia đình nhỏ được ngăn cách bằng vách thô sơ.
Trong từng sóc, đứng đầu có già làng. Người Xtiéng còn làm nhà chứa lúa ở nương ray, vé sau họ đưa nhà chứa lúa về dựng trước nhà ở. Dưới nhà sàn là nơi gia súc ở nên thường không đảm bảo vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khỏe. Hoạt động kinh tế của người Xtiêng chủ yếu là trồng lúa, bắp và mùa khô vào rừng hái lugm, gai bay săn tha.
Ngày nay, được sự hướng dan của các cấp chính quyên, đồng bào Xtiêng đã thực hiện đời sống mới, nhà cửa được xây dựng bằng gỗ, gạch. Nương ray được canh tác theo phương pháp tiến bộ, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Những tập tục mê tin, dị đoan dan được loại bỏ (Dang bộ tỉnh Bình Phước - Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phú Riêng. Cư trú trên mảnh đất Phú Riêng, người Khmer làm rẫy, săn thú, nuôi trâu.
bò làm sức kéo phục vụ sản xuất, Một bộ phận làm nghé buôn bán, thường dùng voi dé vận chuyên. Ngày nay, phần lớn đồng bao Khmer ở nha xây trệt, sinh hoạt giống với người Kinh, biết trồng lúa nước cùng nhiều ngành, nghề khác. Từ những năm cudi thế ky XX, trên địa ban huyện còn có cộng đông các dân tộc Tay, Nung. di cư từ phía Bắc vào.
Đến day, họ mang theo những phong tục, tập quan của quê hương, cùng chung sống hòa nhập với các đân tộc anh em khác, tạo nên sự đa dạng, phong phú về bản sắc văn hóa của cộng đồng các dan tộc thiêu số ở địa phương 10 Từ những năm dau thé ki XIX, khi triéu đình nhà Nguyễn thiết lập cơ câu hành chính và hệ thông đồn ải để quản lý, kiểm soát din cư và lãnh thé, người Kinh (Việt) — trước tiên là binh lính đồn trú và gia đình của họ - mới có mặt ở nơi đây. nhưng vao thời điềm đó, họ chưa tạo thành một cộng đồng dan cư. Ngay từ khi chiếm được ba tỉnh miễn Đông Nam Ky (Biên Hoa, Gia Dinh, Dinh Tường), thực dân Pháp đã thiết lập bộ máy cai trị thực dân và ráo riết đây mạnh việc điều tra, kháo sát vùng rừng núi. Sang đầu thé ki XX, các đại lý hành chính và đồn binh của Pháp lần lượt được thiết lập ở Bù Đốp (1905), Hớn Quảng (1906), Sông Bé (1912) và nhất là sau khi trồng thử nghiệm thành công 8000 cây cao su ở vườn Ông Yém (thuộc Bến Cát - Thủ Dau Một), tư bản Pháp đây mạnh việc chiếm dat dé lập đồn điền cao su, làn sóng di cư của cộng đồng người Việt đến vùng đất này mới nhiều hơn (Đảng bộ tinh Bình Phước — Ban Chấp hành Dang bộ huyện Phú Riêng.
Sự hình thành, phát triển ngày cảng nhanh của các đôn điền cao su ở Phú Riêng đã thúc đây quá trình di dân của cư dân người Việt đến vùng đất nay. Đặc biệt, từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1919) “con sốt cao su” bùng nỗ, đồng nghĩa với việc phải có thật nhiều nhân công. vì vậy các chủ đồn điền đã câu kết với chính quyên thực đân thực hiện các thủ đoạn lừa mị, mua chuộc, cưỡng bức nông dân ở các tỉnh miền Bắc, miễn Trung vào làm công nhân trong các đồn điền cao su. Sau khi Hiệp định Genéve được kí kết, với ý đồ muốn biến miền Nam thành thuộc địa kiêu mới, căn cứ quân sự để quốc Mỹ đã chi đạo chính quyền tay sai Ngô Dinh Diệm tiễn hành thay đôi việc bô trí dân cư và tô chức xã hội ở vùng đất đỏ miền Đông nhằm tạo lá chắn bảo vệ Sài Gòn từ xa, đồng thời tạo bàn đạp tan công tiêu diệt các căn cứ kháng chiến va tách nhân dân ra khỏi anh hưởng của cách mang.
Dich đã lừa mi đồng bao là tín đồ Công giáo miễn Bắc, cưỡng ép nhiều gia đình từ vùng căn cứ kháng chiến Khu 5 miền Trung (Chủ yếu Quảng Nam, Quảng Ngãi) vào Pha Riêng.