Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆP ĐỊNH ĐÔI TÁC TOÀN DIEN VÀ TIEN BỘ XUYÊN THAI BÌNH DƯƠNG CPTPP - _ Chương 2. THỰC TRANG TINH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRUONG CHAU MY SAU HAI NĂM 2019 — 2020 - Chương 3. ĐÁNH GIÁ TANG TRƯỞNG XUẤT KHẨU CUA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CÁC NƯỚC CHÂU MỸ - Chương 4. KHUYEN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP CHO VIET NAM KHI XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG CHAU MỸ 12 NỘI DUNG CHUONG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆP ĐỊNH DOI TÁC TOÀN DIỆN VA TIÊN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG CPTPP 1. Hiệp định thương mại tự do FTA 1. Khái niệm Hiệp định Thương mại tự do (FTAs) là một thuật ngữ phổ biến trong hoạt động thương mại thế giới từ những năm 1990s, tuy nhiên cho tới nay chưa có một định nghĩa chính xác và cụ thé về thuật ngữ này. Theo cách hiểu chung nhất thì Hiệp định thương mại tự do ( Free Trade Agreement) gọi tắt là FTA là một thỏa thuận ký kết giữa hai hay nhiều quốc gia nhằm nhằm mục đích cắt giảm hoặc thậm chí là loại bỏ các rào cản (thông thường là các rào cản về thuế quan và phi thuế quan) đối với hoạt động thương mại giữa các bên.
'FTA có thé mang nhiều tên gọi khác nhau, vi dụ Hiệp định Đối tác Kinh tế (Economic Partnership Agreement), Hiệp định thương mại Khu vực (Regional Trade Agreement). nhưng ban chất đều là các thỏa thuận hướng tới tự do hóa thương mại giữa các Thành viên. Thành viên của các FTA có thé là các quốc gia (ví dụ Việt Nam, Trung Quốc, Hoa Kỳ.) hoặc các khu vực thuế quan độc lập (ví dụ Liên minh châu Âu, Hong Kong Trung Quốc. Vì vậy, thông thường khi nói tới Thành viên FTA, người ta hay dùng từ chung là “nền kinh tế” Các FTA có thê là song phương (02 Thành viên) hoặc đa phương/khu vực (nhiều hơn 02 Thành vién).Pham vi “thương mại” trong các FTA được hiểu theo nghĩa rong, có thé bao gồm tất cả các hoạt động kinh doanh sinh lời, trong đó có thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và cả các vấn đề khác liên quan trực tiếp hoặc gián tiêp tới thương mai (sở hữu trí tuệ, mua sam công, lao động, môi trường.
Bản chất của các FTA là hướng tới tự do hóa về thương mại, là một phần của hoạt động kinh tế đối ngoại. Các FTAs có thể được ký kết theo các hình † Nguồn: Trung tâm WTO và Hội nhập - VCCI 13 thức: khu vực, song phương, đa phương hoặc giữa một quốc gia với một Tổ chức. Nội dung theo cam kết của một FTA thông thường bao gồm các nội dung: (1) Các quy định về thỏa thuận cắt giảm mức thuế quan và phi thuế quan ; (2) Quy định danh mục hàng hóa và dịch vụ hưởng mức cắt giảm thuế quan phân theo từng nhóm ngành cụ thé; (3) Các quy định về lộ trình và thời gian cắt giảm mức thuế quan; (4) Các quy định đi kèm về quy tắc xuất xứ, hàng rào kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng vệ thương mai, sở hữu trí tuệ,. FTA hiện đại hay FTA thế hệ mới thường di xa hơn phạm vi loại bỏ thuế quan, hàng rào phi thuế quan và bao gồm nhiều vấn đề rộng hơn cả cam kết trong khuôn khô GATT/WTO cũng như một loạt vấn đề thương mại mới mà WTO chưa có quy định.
Phạm vi cam kết của các FTA thế hệ mới còn bao gồm những lĩnh vực như thuận lợi hóa thương mại, sở hữu trí tuệ, hợp tác hải quan, mua sam chính phủ, chính sách cạnh tranh, lao động, môi trường, tham chí con găn liên với những vân đê như dân chủ và chông khủng bô. Phân loại Trên thực tế, không có tiêu chí thống nhất hay định nghĩa chính xác dé phân loại các FTA. Việc phân loại các FTA được thực hiện theo các tiêu chí thông dụng như số lượng thành viên tham gia, nội dung cơ bản trong các FTA. - Phân loại theo quy mô, số lượng thành viên tham gia i.
FTA song phương là FTA giữa 2 đối tác tham gia đàm phan ký kết và chịu sự ràng buộc bởi những điều khoản quy định trong nội dung FTA, ví dụ FTA giữa Việt Nam với Chi lê (VCFTA), giữa Việt Nam với Nhật Bản (VJEPA). Với hiệp định trên hai nước nay hay vùng lãnh thé sẽ tiến hành những chính sách nhằm loại bỏ những rào cản thương mại giúp day mạnh hoạt động thương mại. Day cũng là FTA phổ biến nhất và đơn giản nhất, dé đi đến sự thống nhất chung. FTA đa phương (FTA khu vực) là FTA giữa nhiều đối tác trong cùng một khu vực, ví dụ Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN giữa 10 nước trong khu vực ASEAN (AFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) giữa 11 nước trong khu vực châu A — Thái Binh Dương hoặc là FTA trong đó có một bên đối tác là tổ chức tập hợp nhiều nền kinh té, vi 14 dụ các FTA giữa ASEAN với Trung Quốc, An Độ, Hàn Quốc.
Đây cũng là FTA phức tạp nhất và thường có đàm phán và ký kết lâu hơn các FTA khác. Trong một số trường hợp, việc phân nhóm này không thật rõ ràng. Ví dụ, FTA giữa Liên minh Châu Âu (EU, bao gồm 27 nước thành viên) hoặc FTA giữa Liên minh kinh tế Á-Âu (EAEU, bao gồm 05 nước thành viên) với Việt Nam có thé được coi là FTA khu vực, cũng có thé được xem là FTA song phương (tùy vào việc nhìn nhận EU hay EAEU là một khối thống nhất hay tập hợp nhiều nền kinh tế). FTA hỗn hợp là hình thức FTA kết hợp cả FTA song phương và đa phương.
Một bên là khu vực mậu dịch tự do và bên kia là một hoặc một số đối tác là quốc gia hoặc vùng lãnh thé. Đây là hiệp định mang đến nhiều tiềm năng phát triển thương mại giữa các nước trong hiệp định nhưng cũng là FTA phức tạp mat nhiều thời gian đàm phán và ký kết. - Phân loại theo mức độ tự do hóa Đây là cách phân loại của World Bank (WB). Dựa vào mức độ tự do hóa của các FTA, WTO phân chia FTA thành 3 loại: FTA kiêu My, FTA kiểu châu Âu va FTA kiểu các nước đang phát trién.
(i) FTA kiểu Mỹ là FTA có mức độ tự do hóa cao nhất, đòi hỏi các thành viên phải mở cửa tất cả các lĩnh vực, kế cả lĩnh vực thuộc ngành dịch vụ. Hiệp định áp dụng quy chế MEN và NT và tất cả các ngành phải mở cửa trừ khi có các quy định khác ghi rõ bên trong hiệp định. Tiêu biểu cho hiệp định này là Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Trong cam kết và thảo thuận về thương mại tự do các nước châu Âu không đưa lĩnh vực nông nghiệp vào và hàu hết được các nước thành viên bảo hộ vì họ cho rằng nếu cho vào sẽ ảnh hưởng tới an ninh lương thực của các quốc gia cũng như đời sống của người làm nông nghiệp mỗi nước.
(iii) Cuối cùng là FTA kiểu các nước dang phát triển, các hiệp định này kém tự 15 do hơn hai hiệp định trên, Fta kiểu này chú trọng nhiều hơn đến thương mại hàng hóa và ít khi bao gồm các điều khoản mở cửa cho nhau trong lĩnh vự dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ. Điển hình cho hiệp định loại này là Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và thị tường chung Nam Mỹ (MERCOSUR). Nội dung cơ bản - Tự do hóa thương mại hàng hóa Thương mại tự do hàng hóa thông thường gồm 4 nội dung chính như sau: (i) Thứ nhất là quy định về việc cắt giảm hang rào thuế quan và phi thuế quan. (ii) Thứ hai là quy định danh mục mặt hàng đưa vào cắt giảm thuế quan.
Thông lệ áp dụng chung là 90% thương mại. (iii) Thứ ba là quy định lộ trình cắt giảm thuế quan, khoảng thời gian cắt giảm thuế quan thường được kéo dài không quá 10 năm. (iv) Thứ tư là quy định về quy tắc xuất xứ. Ngoài ra còn có một số nội dung khác đề cập tới vấn đề tự do hóa trong lĩnh vực dịch vụ và đầu tư, các biện pháp hạn chế định lượng, các rào cản kỹ thuật, quyền sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, mua sắm chính phủ, lao động, bảo hiểm và môi trường.
Trong một hiệp định FTA điểm nỗi bật và quan trọng nhất là các cam kết gỡ bỏ thuế và các rào cản phi thuế với các hàng hóa. Các mức thuế sẽ được giảm ngay về 0% khi hiệp định có hiệu lực hoặc giảm theo một lộ trình nhất định với các hàng hóa được quy định cụ thé. Với mức độ hội nhập sâu rộng như hiện nay thì các mức thuế quan và rào cản phi thuế gần như được gỡ bỏ hoặc được quy định với mức thuế rất thấp trừ một số mặt hàng trong danh sách nhạy cảm. Ngoài ra, FTA ngày nay còn quy định cả hạn chế định lượng và các rào cản kỹ thuật thương mại khác.
Các quy định về xuất xứ dé đảm bảo lợi ích cân bằng giữa các nước thành viên của hiệp định, các quy định thủ tục hải quan cũng được đơn giản đảm bao hai hòa giữa các nước. - Tự do hóa thương mại dịch vụ Việc hiểu FTA qua nghĩa hiện đại ở trên có thể thấy rằng các FTA hiện nay còn bao gồm các quy định về thương mại dịch vụ, các nước trong hiệp định FTA mở cửa thị trường dịch vụ với nhau. Tuy nhiên, cũng tùy vào FTA mà cam kết mở cửa của dịch vụ khác nhau nhưng nhìn chung tự do hóa trong thương mại dịch 16 vụ vẫn không cao bằng tự do hóa thương mại hàng hóa. - Tự do hóa đầu tư Trong những năm trở lại đây, đặc biệt trong các FTA của các nước đang phát triển thì tự do hóa đầu tư ngày càng trở nên quan trọng.
Nó giúp các nước bên tham gia FTA gỡ bỏ hàng rào cản trở đầu tư nước ngoai, tạo điều kiện cho việc thu hút vốn đầu tư phát triển. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP 2. Hoàn cảnh ra đời Hiệp định CPTPP ban đầu là Hiệp định Đối tác kinh tế chặt chẽ hơn do nguyên thủ 3 nước Chile, New Zealand và Singapore (P3) phát động đàm phán nhân dịp Hội nghị Cấp cao APEC 2002 tô chức tại Mê-hi-cô. Tháng 4 năm 2005, Brunei xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lập trước khi vòng đàm phán cuối cùng kết thúc, biến P3 thành P4 và đối tên thành Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Duong (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement), gọi tắt là Hiệp định P4.