chương 1 và chương 30 là các chương giới thiệu và tổng kết, có thể tóm lược những vấn đề cơ bản của Hiệp định theo các nội dung như sau: a. Thương mại hàng hóa: là các cam kết về Thuế quan và mở của thị trường đối với hàng hóa và các quy tắc về thương mại hàng hóa. Chương 2: Đối xử quốc gia và mở cửa thị trường đối với hàng hóa Chương này quy định về các nguyên tắc, các cam kết và các vấn đề khác liên quan tới việc mở cửa thị trường hàng hóa giữa các nước thành viên CPTPP. Thứ nhất, cam kết về thuế quan.
Các cam kết về thuế quan trọng CPTPP bao gồm 02 nhóm: cam kết về thuế nhập khẩu và cam kết về thuế xuất khẩu. Các cam kết về thuế quan được chi tiết theo từng dòng thuế trong Biểu thuế; mỗi nước CPTPP sẽ có một Biểu cam kết thuế quan riêng áp dụng cho từng đối tác (4 nước gồm: Nhật Bản, Mexico, Canada, Chile, nội dung các dòng thuế cho các đối tác phần lớn giống nhau, chỉ khác 11 nhau ở một số dòng) hoặc cho tất cả các đối tác CPTPP (7 nước gồm: Singapore, Việt Nam, Úc, Brunei, Peru, Malaysia, New Zealand) Ưu đãi thuế quan trong CPTPP theo 03 hình thức: - Cam kết xóa bỏ thuế quan ngay khi CPTPP chính thức có hiệu lực: thuế quan sẽ là 0% vào thời điểm CPTPP có hiệu lực; - Cam kết loại bỏ thuế quan theo lộ trình: Thuế quan sẽ được đưa về 0% sau một khoảng thời gian nhất định (lộ trình), phần lớn là lộ trình 3-7 năm, một số trường hợp lộ trình là 10, 15, 20 năm. - Cam kết hạn ngạch thuế quan: thuế quan giảm hoặc xóa bỏ với một số lượng, khối lượng hàng hóa…nhất định (gọi là mức hạn ngạch); còn vượt ra khỏi mức hạn ngạch thì thuế quan sẽ cao hơn (hoặc thuế quan không được ưu đãi). Biểu cam kết thuế quan chi tiết từng dòng thuế chi tiết đến HS 8, 9 hoặc 10 số tùy thuộc từng nước; kèm theo các phụ lục về Hạn ngạch thuế quan, Biện pháp tự vệ đối với nông sản, Thỏa thuận song phương, Danh mục các mặt hàng có cam kết thuế quan khác nhau áp dụng quy tắc xuất xứ riêng.1 : Tổng quát các cam kết về thuế quan trong CPTPP dành cho Việt Nam - Xóa bỏ thuế quan ngay khi CPTPP có hiệu lực cho khoảng từ 78-95% số dòng thuế - Cuối lộ trình giảm thuế, sẽ xóa bỏ đến 97-100% số dòng thuế (thông thường là khoảng từ 5-10 năm, hàng hóa nhạy cảm là trên 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan) Tổng quát các cam kết về thuế quan của Việt Nam cho các nước khác trong CPTPP - Việt Nam đưa ra một Biểu thuế quan ưu đãi theo từng dòng thuế và áp dụng chung cho tất cả các đối tác CPTPP.
- 65,8% số dòng thuế sẽ được loại bỏ (thuế suất 0%) ngay khi Hiệp định có hiệu lực; - 86,5% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 4 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; - 97,8% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; - Các mặt hàng còn lại cam kết xoá bỏ thuế nhập khẩu với lộ trình xóa bỏ thuế tối đa vào năm thứ 16 hoặc theo hạn ngạch thuế quan. * Cam kết về thuế xuất khẩu đối với hàng hóa: Trong CPTPP, Việt Nam xóa bỏ thuế xuất khẩu đối với phần lớn các sản phẩm và chỉ giữ lại quyền áp dụng thuế xuất khẩu đối với 70 sản phẩm thuộc các nhóm: Nhóm khoáng sản; Nhóm quặng; Nhóm vàng… Nguồn: Văn kiện Hiệp định CPTPP, Bản tóm tắt của Trung tâm WTO và Hội nhập, 2019 12 Thứ hai, Về tạo điều kiện thương mại hàng hóa và các quy tắc thương mại. CPTPP yêu cầu các nước Thành viên không được áp dụng các biện pháp có tính hạn chế xuất/nhập khẩu sau: - yêu cầu về giá xuất khẩu, nhập khẩu, ngoại trừ các trường hợp thực hiện các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp; biện pháp cấp phép nhập khẩu dựa trên tiêu chí về hoạt động (performance requirement), ví dụ yêu cầu về tỷ lệ xuất khẩu tối thiểu, yêu cầu về mức độ nội địa hóa…; cho phép tham gia nhập khẩu hoặc cho phép nhập khẩu một loại hàng hóa nếu có quan hệ hợp đồng hoặc quan hệ khác với một nhà phân phối nội địa… Thứ ba, CPTPP yêu cầu tuân thủ các quy tắc trong Hiệp định về Thủ tục cấp phép nhập khẩu của WTO (có chơ chế minh bạch và thông báo giữa các thành viên với nhau); nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT) trong GATT 1994 của WTO; Thứ tư, Về trợ cấp nông sản: CPTPP cấm các nước trợ cấp xuất khẩu cho nông sản sang các nước Thành viên khác. CPTPP không có cam kết về trợ cấp nội địa đối với nông sản.
Chương 3, Quy tắc xuất xứ và các thủ tục chứng nhận xuất xứ Gồm các quy định về quy tắc xuất xứ và thủ tục chứng nhận xuất xứ, cùng với các Phụ lục chi tiết, trong đó có Phụ lục: Quy tắc xuất xứ cụ thể cho từng nhóm hàng hóa (trừ dệt may). CPTPP có quy định riêng về quy tắc xuất xứ từ CPTPP khác biệt so với các FTA khác. Chương 4, Dệt may Quy định riêng về một số vấn đề liên quan tới sản phẩm dệt may, như: quy tắc xuất xứ riêng đối với các sản phẩm dệt may; quy định về biện pháp tự vệ đối với dệt may, các vấn đề về hợp tác hải quan, chương trình giám sát, xác minh xuất xứ. Chương 5, Hải quan và tạo thuận lợi thương mại Chương này quy định một số nội dung nhằm Mỗi bảo đảm rằng thủ tục hải quan của nước thành viên được áp dụng một cách có thể dự đoán, nhất quán và minh bạch.
Chương 6, Phòng vệ thương mại Quy định về các biện pháp phòng vệ thương mại chung, gồm: các biện pháp tự vệ ngoài tự vệ toàn cầu (tự vệ theo WTO) và CPTPP cho phép các nước thực hiện tự vệ trong thời gian chuyển đổi; Chống bán phá giá: CPTPP không có cam kết về cơ chế riêng mà đề nghị các nước tuân thủ nguyên tắc của các Hiệp định về chống bán phá giá và Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO Chương 7, Các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Chương này quy định biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) trong CPTPP theo Hiệp định SPS của WTO. CPTPP mở rộng hơn so với WTO là 13 về hợp tác và tham vấn kỹ thuật; tăng cường minh bạch trong công nhận hệ thống quản lý và các biện pháp SPS của nhau, công nhận điều kiện vùng và khu vực (chứng nhận và kiểm tra nhập khẩu đối với hàng hóa nông sản thực phẩm nhập khẩu. Chương 8, Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) TBT của CPTPP bao gồm các yêu cầu tuân thủ các nguyên tắc của WTO về vấn đề và bổ sung thêm một số cam kết riêng. Các cam kết mới trong CPTPP liên quan tới quy trình đánh giá sự phù hợp và và yêu cầu về nội dung các tiêu chuẩn TBT đối với một số sản phẩm.
Dịch vụ xuyên biên giới, đầu tư và di chuyển thể nhân: Chương 9, Đầu tư Nội dung gồm 02 nhóm chính: Nguyên tắc trong đối xử của nước nơi nhận đầu tư với nhà đầu tư đến từ các nước khác và các cam kết về thủ tục giải quyết tranh chấp đầu tư giữa Nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước nơi nhận đầu tư trong CPTPP. - Các nguyên tắc về đầu tư: + Nhóm các nguyên tắc mở cửa thị trường, xóa bỏ rào cản đầu tư: Về cơ bản bao gồm những nguyên tắc khá phổ biến trong nhiều FTA thế hệ mới. Đó là: Nguyên tắc không phân biệt đối xử: (NT và MFN) về cơ bản là tuân thủ theo nguyên tắc này của WTO, tuy nhiên CPTPP vẫn cho phép các nước được thực thi các thủ tục hay quy định riêng biệt cho nhà đầu tư nước ngoài so với trong nước nếu các thủ tục này không làm ảnh hưởng đáng kể đến mức độ bảo hộ nhà đầu tư theo nguyên tắc của CPTPP Nguyên tắc về “các yêu cầu về hoạt động” (Performance Requirements): Nguyên tắc là này là một điểm khác biệt so với các nguyên tắc khác được quy định trong CPTPP, nó sẽ được áp dụng cho tất cả các nước đầu tư vào nước thành viên CPTPP kể cả các nước không phải là thành viên của CPTPP. Theo đó, nguyên tắc này cấm Nhà nước nơi nhận đầu tư đặt ra các hạn chế bắt buộc trên để xem xét cấp phép đầu tư hay cấp các ưu đãi đầu tư.
Cụ thể: các quy định về việc thành lập, quản lý, vận hành của các khoản đầu tư (như khống chế phải xuất khẩu một tỷ lệ sản phẩm nhất định; phải đạt tỷ lệ nội địa hóa; phải mua hay sử dụng sản phẩm của một chủ thể chỉ định; phải chuyển giao công nghệ, quy trình hay kiến thức cho chủ thể của nước đó; phải đạt tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu/nhập khẩu…). Tuy nhiên, các nước được phép đạt ra yêu cầu về sử dụng lao động nội địa trong CPTPP. + Nguyên tắc về “Nhân sự quản lý cao cấp và Ban lãnh đạo”: theo đó không được đặt ra yêu cầu về quốc tịch bắt buộc của nhân sự quản lý cao cấp hay Ban lãnh đạo. Chí có thể có quyền yêu cầu đa số các thành viên của Ban lãnh đạo doanh nghiệp đầu tư nước 14 ngoài từ CPTPP phải có quốc tịch của một nước hoặc phải cư trú trên lãnh thổ nước mình.
+ Nhóm các nguyên tắc nhằm đảm bảo các quyền lợi cơ bản của nhà đầu tư Nguyên tắc “Chuẩn đối xử tối thiểu”: CPTPP yêu cầu các đối xử phải phù hợp với “tập quán pháp luật quốc tế”, tức là tuân theo các nguyên tắc quốc tế về bảo vệ đầu tư nước ngoài đã trở thành tập quán chung được các quốc gia áp dụng phổ biến và liên tục và coi đó như nghĩa vụ bắt buộc của mình. Bên cạnh đó khẳng định việc Nhà nước có một chính sách khác với dự kiến của nhà đầu tư sẽ không bị coi là vi phạm “chuẩn đối xử tối thiểu”, kể cả gây ra thiệt hại cho nhà đầu tư, nhằm hạn chế tình trạng nhà đầu tư kiện đòi Nhà nước bồi thường cho mình khi không được như kỳ vọng trước đó của nhà đầu tư.