MỞ ĐẦU Sau hơn ba năm kể từ khi Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization – WHO) công bố bệnh do virus Corona 2019 (Coronavirus disease 2019 – COVID – 19) là một đại dịch toàn cầu, đã có gần 780 triệu người mắc và 7 triệu người tử vong.2 Tỉ lệ nhập viện tăng gấp 6 lần và tỉ lệ tử vong tăng 12 lần khi BN mắc COVID – 19 có bệnh lí nền.4 Trong đó, đái tháo đường (ĐTĐ) được xem là một trong những bệnh lí đồng mắc phổ biến nhất và góp phần gia tăng tình trạng nặng, gia tăng tỉ lệ tử vong do COVID – 19 đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu (NC).5-7 Điều này liên quan đến mối liên hệ giữa vi – rút SARS – CoV – 2 và thụ thể Angiotensin – converting enzyme 2 (ACE 2) hiện diện và tấn công lên nhiều cơ quan đích quan trọng, đặc biệt càng thuận lợi hơn khi xảy ra trên cơ địa bệnh nhân (BN) ĐTĐ đã sẵn có tăng biểu lộ những thụ thể này và tiềm tàng tiến trình viêm mạn tính. Hậu quả là, suy giảm đáp ứng miễn dịch đi kèm với stress oxy hóa, thúc đẩy cơn bão cytokine, tăng tạo huyết khối dẫn đến các kết cục bất lợi và tử vong.8-10 Trên thế giới, nhiều NC đã cho thấy có sự khác biệt giữa đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các kết cục của BN nhiễm COVID – 19 ở hai nhóm có ĐTĐ và không ĐTĐ, với đa số dân số NC đến từ các quốc gia thuộc châu Âu, châu Mỹ và châu Á (chủ yếu từ Trung Quốc). Hầu hết các kết quả đều cho thấy rằng ĐTĐ là bệnh đồng mắc rất thường gặp ở BN COVID – 19 và là nhóm BN có tỉ lệ suy hô hấp, cần thông khí xâm lấn, nhập đơn vị chăm sóc tích cực và tử vong cao hơn nhóm không ĐTĐ.11,12 Do đó, BN có ĐTĐ được xem là đối tượng nguy cơ cao diễn tiến nặng, gia tăng nhiều kết cục bất lợi khi nhiễm COVID – 19.9,13 Tại Việt Nam, trải qua bốn làn sóng lớn của đại dịch COVID – 19, hơn 11 triệu người nhiễm và hơn 43,000 người đã tử vong.2 Nhiều bệnh viện Dã chiến và điều trị chuyên khoa COVID – 19 đã được xây dựng theo mô hình tháp điều trị ―ba tầng‖, giúp nhận diện và phân tầng nguy cơ hợp lý theo mức độ nặng. ―Bệnh viện điều trị COVID – 19 Nguyễn Tri Phương‖ được thành lập trong thời điểm đỉnh dịch của làn sóng đại dịch thứ tư và hoạt động dựa trên cơ sở hạ tầng, nguồn lực của bệnh viện Nguyễn Tri Phương hiện thời.
Bên cạnh là một bệnh viện đa khoa, có chuyên khoa. 2 Nội Tiết và là bệnh viện thuộc ―tầng 3‖ trong tháp mô hình điều trị ba tầng, chủ yếu nhận bệnh ở mức độ trung bình – nặng trở lên và thu dung các ca bệnh nặng từ các cơ sở Dã chiến, bệnh viện đã tiếp nhận và điều trị hơn 4000 ca bệnh COVID – 19. Từ sự khác biệt về các kết cục lâm sàng của BN nhiễm COVID – 19 có hoặc không kèm ĐTĐ đã được nhắc đến trong nhiều NC trên thế giới đặt ra câu hỏi: Liệu rằng trên dân số người Việt Nam, BN ĐTĐ mắc COVID – 19 có đặc điểm gì khác với BN không mắc ĐTĐ về lâm sàng, cận lâm sàng, mức độ nặng và các kết cục bất lợi hay không? Theo sự hiểu biết tốt nhất của chúng tôi đến nay, các nghiên cứu về COVID – 19 trên dân số người Việt Nam đa số là những mô tả về đặc điểm dịch tễ học tại các bệnh viện, các Trung tâm Dã chiến và chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam khảo sát trên hai nhóm BN nhiễm COVID – 19 có mắc ĐTĐ hoặc không. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ―Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các kết cục trên BN nhiễm COVID – 19 có đái tháo đường và không đái tháo đường tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương‖ với các mục tiêu sau: Mục tiêu tổng quát: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các kết cục trên bệnh nhân nhiễm COVID – 19 có ĐTĐ và không ĐTĐ tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương.
Mục tiêu cụ thể: 1. So sánh các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đặc điểm điều trị trên BN nhiễm COVID – 19 ở hai nhóm có ĐTĐ và không ĐTĐ. So sánh tỉ lệ tử vong và các kết cục bất lợi khác (như sốc, suy hô hấp, thở máy xâm lấn) trên BN nhiễm COVID – 19 ở hai nhóm có ĐTĐ và không ĐTĐ. Khảo sát các yếu tố liên quan đến tử vong ở nhóm BN nhiễm COVID – 19 có ĐTĐ và không ĐTĐ.
3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về COVID – 19 1. Dịch tễ học 1. Thế giới Cuối năm 2019, Trung Quốc là quốc gia đầu tiên báo cáo ca mắc và trở thành tâm dịch của toàn cầu với tốc độ lây lan nhanh chóng.
Theo số liệu mới nhất tính đến tháng 10 năm 2023 của WHO, số ca mắc đã lên đến hơn 770 triệu trường hợp và gần 7 triệu người tử vong. Trong đó, nước Mỹ có số ca mắc cao nhất với hơn 100 triệu ca và hơn 1 triệu ca tử vong, vượt qua số liệu thống kê tại Trung Quốc là quốc gia đầu tiên công bố dịch, hiện có khoảng 99 triệu ca mắc và gần 122,000 người tử vong.2 Hiện nay, tốc độ gia tăng ca mắc mới và tử vong trên toàn thế giới giảm mạnh, tuy nhiên số ca mắc và tử vong vẫn âm thầm gia tăng với sự xuất hiện nhiều biến thể mới, cho thấy cả thế giới phải luôn trong tâm thế sẵn sàng ứng phó với dịch bệnh trong tương lai. Vào tháng 5 năm 2023, WHO đã đưa ra một tuyên bố quan trọng rằng COVID – 19 không còn là tình trạng khẩn cấp về sức khỏe toàn cầu kể từ lần báo động đầu tiên vào tháng 1 năm 2020. Trong hơn một năm qua, đại dịch có xu hướng giảm, với khả năng miễn dịch của người dân tăng lên nhờ chiến dịch tiêm chủng, tỉ lệ tử vong giảm, giảm sức ép lên y tế và kinh tế, hầu hết các quốc gia trở lại cuộc sống bình thường mới.
Tuy nhiên, WHO nhấn mạnh rằng việc hạ mức báo động này không đồng nghĩa là COVID – 19 không còn là mối đe dọa sức khỏe toàn cầu. Theo số liệu thống kê, cứ mỗi ba phút COVID – 19 đã cướp đi một sinh mạng và đó chỉ là những cái chết mà chúng ta biết. Điều này nhấn mạnh việc phòng chống COVID – 19 là thật sự cần thiết và mang tính dài hạn. Bản đồ số ca mắc trên toàn cầu Nguồn: “Tổ chức Y tế Thế giới, 20232” 1.
Việt Nam Đầu năm 2020, hai trường hợp đầu tiên mắc COVID – 19 tại Việt Nam do vi – rút SARS – CoV – 2 gây ra được xác nhận tại Thành phố Hồ Chí Minh, đến nay theo số liệu mới nhất tính đến tháng 10 năm 2023 của WHO đã có gần 12 triệu ca mắc và hơn 43,000 người tử vong.2 Đại dịch COVID – 19 đã trải qua bốn làn sóng tại Việt Nam với số lượng ca mắc của mỗi làn sóng sau cao đều cao hơn trước, ba đợt dịch đầu với quy mô dịch nhỏ, số ca nhiễm ở mức độ thấp sau đó thời gian đạt đỉnh kéo dài dần và đặc biệt làn sóng thứ tư là giai đoạn dài nhất, nhiều biến động, lan rộng toàn quốc với số lượng ca tử vong tăng nhanh khi có sự xuất hiện của hai biến thể Delta và Omicron khiến dịch bùng phát và lây lan mạnh khắp cả nước (Hình 1.15 Về tổng số ca nhiễm, dẫn đầu là hai tỉnh thành với số lượng dân cư tập trung đông đúc nhất là thủ đô Hà Nội hơn 1,6 triệu người và thành phố Hồ Chí Minh với gần 630,000 ca mắc. Về số ca tử vong, thành phố Hồ Chí Minh với gần 20,000 ca tử vong, tiếp đến là tỉnh Bình Dương với hơn 3,500 ca tử vong đã được báo cáo theo số liệu mới nhất do Bộ Y Tế cập nhật tính đến ngày tháng 10 năm 2023. Bốn làn sóng lây nhiễm COVID – 19 ở Việt Nam Nguồn: “Sở Y Tế Thành phố Hồ Chí Minh, 202115” Với sự bùng phát mạnh của dịch tại Việt Nam đặc biệt là tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Y tế Việt Nam đã xây dựng mô hình tháp điều trị ―3 tầng‖ dựa trên độ nặng của bệnh (Hình 1.17 Trong đó, Bệnh viện điều trị COVID – 19 Nguyễn Tri Phương được thành lập vào ngày 21 tháng 07 năm 2021 trong giai đoạn làn sóng thứ tư, thuộc ―tầng 3‖ trong mô hình điều trị, chủ yếu thu dung và điều trị các bệnh COVID – 19 từ mức độ trung bình – nặng trở lên, có khoa hồi sức tích cực đủ năng lực cấp cứu và điều trị COVID – 19 đặc biệt thu dung những ca nặng được chuyển từ các tuyến địa phương hay các bệnh viện Dã chiến, với số BN lên đến hơn 4000 ca bệnh.18 Tháng 6 năm 2023, Bộ Y tế nước ta đã thống nhất chuyển COVID – 19 từ bệnh truyền nhiễm nhóm A (các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm) sang bệnh truyền nhiễm nhóm B (các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm) sau công bố. 6 toàn cầu của WHO vào tháng 5 và đưa ra những kế hoạch phòng chống và kiểm soát dịch mang tính dài hạn hơn.
Mô hình tháp điều trị ba tầng17 Nguồn:“Bộ Y Tế, 2021” 1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng Các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và ảnh hưởng lên đa cơ quan của vi – rút SARS – CoV – 2 được mô tả tóm tắt trong hình 1. Đặc điểm lâm sàng Triệu chứng lâm sàng được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn khởi phát, giai đoạn toàn phát, giai đoạn hồi phục với các triệu chứng đa dạng với các đặc điểm nổi bật được trình bày dưới đây. Tác động của COVID – 19 và biểu hiện lâm sàng “Nguồn: Bhaskar, 202020” Giai đoạn khởi phát: từ 2 – 14 ngày, trung bình từ 5 – 7 ngày, với triệu chứng hay gặp là sốt, ho khan, mệt mỏi và đau cơ.
Một số trường hợp không biểu hiện triệu chứng lâm sàng nào.21,22 Khoảng 5 – 10% người bệnh có thể ―giảm oxy máu thầm lặng‖. Những trường hợp này người bệnh không có cảm giác khó thở, không biểu hiện tăng tần số hô hấp (thở nhanh) nhưng độ bão hòa oxy trong máu ngoại vi (SpO2 – Saturation of peripheral oxygen) giảm dưới 94% rất dễ bị bỏ qua.