CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỂN CỦA NGHIÊN CỨU 1.1 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 1. Thuyết hệ thống – sinh thái Mô hình đời sống về thực hành công tác xã hội của Germain và Gitterman (1980) là một mô hình chính trong hệ thống sinh thái. Mô hình cuộc đời nhìn nhận cá nhân như việc họ thích ứng thường xuyên trong một sự trao đổi lẫn nhau với nhiều khía cạnh khác nhau về môi trường sống của họ.Tất cả chúng đều biến đổi thông qua môi trường. Ở đâu chúng ta có thể trao đổi và phát triển thông qua cách này qua môi trường thì sự thích ứng qua lại qua môi trường cũng tồn tại.
Những vấn đề xã hội (nghèo đói, bệnh tật, bất bình đẳng, bạo lực) đều làm giảm khả năng thích ứng tương hỗ. Do vậy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường sẽ giảm đi. Các hệ thống của cuộc sống cũng phải duy trì một sự phù hợp tốt với môi trường. Chúng ta đều cần một đầu vào phù hợp nhằm duy trì chúng ta và đảm bảo sự phát triển.
Vấn đề của công tác xã hội xảy ra khi các hệ thống cá nhân sống trong đó không thích ứng được với môi trường sống của họ. Ở đâu sự trao đổi thiết lập được sự cân bằng thích ứng thì ở đó xuất hiện những áp lực. Điều này cũng tạo ra các vấn đề theo một hình thức phù hợp giữa những nhu cầu của chúng ta và khả năng về môi trường. Áp lực có thể xuất hiện từ: - Sự chuyển đổi cuộc sống (bíên đổi về vị thế vị trí vai trò xã hội, không gian sống.
VD: những người lần đầu tiên làm cha làm mẹ, được thăng chức hay giáng cấp, những đứa trẻ lần đầu tiên đến trường hay tiếp xúc với những điều mới lạ…đều tạo nên nhưng áp lực mà chúng ta cần phải cân bằng nếu không muốn rơi vào khủng hoảng). - Những áp lực về môi trường (những cơ hội bất bình đẳng, những điều khắt khe và những tổ chức không phản hồi) - Các tiến trình liên cá nhân (khám phá, kỳ vọng trái ngược nhau) Thực chất trong cuộc sống mọi vấn đề chúng ta gặp phải đều có thể tạo ra những áp lực, nhưng quan trọng là sự ảnh hưởng và tính chất của nó ra sao. Không phải những tình huống nào cũng hướng đến những áp lực thực tế. Những áp lực chỉ 12 xuất hiện trong những tình huống cá nhân không thích ứng được trong sự trao đổi với môi trường.
Cốt lõi của thuyết này nhấn mạnh đến tầm quan trọng về khả năng thích ứng, kiểm soát, nhận thức môi trường bên ngoài của mỗi cá nhân. Trong mối quan hệ giữa cán sự và thân chủ, xuất hiện những vấn đề cần trao đổi (vấn đề gây cản trở khả năng thích ứng của thân chủ với môi trường): - Quan niệm của xã hội về vị trí, vai trò (như nỗi sợ của thân chủ về giai cấp, ví trí chính thức của cán sự) - Các chức năng và cấu trúc cơ sở xã hội (giống như các chính sách) - Các luận điểm về mặt chuyên môn (như đạo đức) Theo Germain và Gitterman mục đích của CTXH là nhằm tăng cường khả năng thích ứng và tạo ảnh hưởng đến môi trường của các cá nhân do đó nhiều hình thức trao đổi và mang tính thích ứng nhiều hơn. Ứng dụng lý thuyết Trong nghiên cứu này, chúng ta thấy cộng đồng nữ công nhân lao động nhập cư là một hệ thống, tất cả các hộ nữ công nhân lao động nhập cư là một hệ thống con, chịu ảnh hưởng và chi phối của hệ thống lớn. Vì vậy CTXH nhóm hỗ trợ thay đổi đời sống cho từng hộ dân cũng có nghĩa là làm thay đổi cả hệ thống của địa phương.
Nhận thức được như vậy muốn hỗ trợ thay đổi đời sống thành công cho từng hộ của nữ lao động nhập cư thì việc ứng dụng CTXH nhóm phải xem xét hệ thống sinh kế của cả địa phương sao cho phù hợp nhất và hiệu quả nhất 1. Thuyết nhu cầu Abraham Maslow (1908-1970) khi đưa ra lý thuyết liên quan đến nhu cầu con người vào những năm 50 của thế kỷ XX đã đề cập đến hệ thống gồm năm loại nhu cầu của con người được xếp thành thứ bậc, nhu cầu bậc thấp xếp phía dưới, các nhu cầu phát triển xếp ở các bậc thang cao hơn. Các nhu cầu này được xếp thành hình tháp bao gồm: - Nhu cầu sinh lý cơ bản: ăn, ở, vệ sinh, tình dục. - Nhu cầu bảo toàn tính mạng.
- Nhu cầu văn hóa xã hội. - Nhu cầu được kính trọng. 13 - Nhu cầu tự thể hiện, tự khẳng định, nói theo ngôn ngữ của Mỹ ngày nay là nhu cầu "bùng nổ cá nhân". (The personality broke out) Theo Maslow các nhu cầu của con người sắp xếp theo một thứ bậc.
Các nhu cầu càng thấp trong thứ bậc, chúng càng cơ bản và càng giống với các nhu cầu của loài vật. Các nhu cầu càng cao trong thứ bậc, chúng càng đặc trưng cho con người. Chỉ khi nào ta thỏa mãn được các nhu cầu bậc thấp mới có thể xử lý được các nhu cầu ở bậc cao. Nhu cầu cơ bản (basic needs) Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người.
Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất. Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được. Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs): Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt. Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần.
Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm. Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ,…Các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm, …cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này. Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương (needs of love). Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm, …Mặc dù, Maslow xếp nhu cầu này sau 2 14 nhu cầu phía trên, nhưng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh.
Nhu cầu được quý trọng Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân. Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho một đứa trẻ học tập tích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn. Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): Maslow mô tả nhu cầu này như sau: “self-actualization as a person’s need to be and do that which the person was “born to do” (nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm”). Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội.
Ứng dụng của lý thuyết trong nghiên cứu Trong đề tài này, Lý thuyết Nhu cầu của Maslow sẽ được sử dụng nhằm đánh giá nhu cầu sinh hoạt nhóm của các nữ lao động nhập cư, từ đó nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị, giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu thiết thực về đời sống của họ. Điều này sẽ giúp cải thiện chất lượng do ứng dụng CTXH nhóm tạo ra Khi ứng dụng CTXH nhóm với nữ lao động nhập cư thì cần chú ý đáp ứng nhu cầu của họ trong quá trình thành lập nhóm, sinh hoạt nhóm một cách đồng bộ, có như thế mới giải quyết được tất cả nguyên nhân cội nguồn và có phương án phát triển nhóm đạt được mục đích đề ra khi các thành viên đều thỏa mãn nhu cầu của họ 1. Lý thuyết nhận thức hành vi Các quan điểm về hành vi và nhận thức xuất phát từ hai dòng tác phẩm tâm lý học (TLH) có liên quan. Về mặt lịch sử, lý thuyết học hỏi xuất hiện đầu tiên và phát triển trong TLH lâm sang sử dụng trị liệu hành vi dựa trên nghiên cứu của TLH.
Sheldon (1995) biểu đạt bản chất của lý thuyết này là việc tách biệt ý thức và hành vi. Các quan điểm tâm động học và quan điểm truyền thống lại cho rằng hành vi xuất phát từ một quá trình thực hiện theo ý thức của chúng ta, điều này có nghĩa là hành 15 vi của con người xuất hiện dựa trên ý thức của họ. Nhưng lý thuyết học hỏi cho rằng chúng ta không thể biết được điều gì đang xảy ra trong ý thức của ai đó. Do đó, chúng ta chỉ có thể trị liệu tập trung đến việc giải quyết các vấn đề làm thay đổi hành vi mà không quan tâm đến những vấn đề biến đổi nào có thể xảy ra trong ý thức của chúng ta trong quá trình này.
- Nội dung của thuyết: thuyết này cho rằng: chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định. Sở dĩ chúng ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp.