phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của đề tài gồm 3 chương. 6 Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với người tâm thần. Chƣơng 2: Thực trạng về công tác xã hội đối với người tâm thần tại Trung tâm Bảo trợ Xã hội Bình Đức giai đoạn năm 2013 - 2016 Chƣơng 3: Một số định hướng và giải pháp nhằm tăng cường công tác xã hội đối với người tâm thần tại Trung tâm Bảo trợ Xã hội Bình Đức 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI TÂM THẦN 1. Các khái niệm liên quan 1.
Khái niệm sức khỏe tâm thần Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): “Sức khỏe là một trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ có nghĩa đơn thuần là không mang bệnh tật hay thương tật”. Sức khỏe tâm thần được xem như trạng thái khỏe mạnh của cá nhân mà ở đó, họ có thể nhận biết tiềm năng của bản thân, có khả năng đối mặt với những căng thẳng thông thường trong cuộc sống, làm việc một cách hiệu quả, từ đó đóng góp cho xã hội [15, tr.5] Trong khi, sức khoẻ về thể chất đã được xã hội từng bước đặt đúng vào vị trí của nó, thì sức khoẻ về tâm thần vẫn còn phải phấn đấu, để thay đổi dần những nhận thức còn nhiều lệch lạc. Sức khoẻ tâm thần không chỉ là một trạng thái không có rối loạn hay dị tật về tâm thần, mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái. Muốn có một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, thì cần phải có chất lượng nuôi sống tốt, có được sự cân bằng và hoà hợp giữa các cá nhân, môi trường xung quanh và môi trường xã hội.
Như vậy, thực chất sức khoẻ tâm thần là: - Một cuộc sống thật sự thoải mái. - Đạt được niềm tin vào giá trị bản thân, vào phẩm chất và giá trị của người khác. - Có khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý trước mọi tình huống. - Có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thoả đáng các mối quan hệ.
- Có khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có các sự cố gây mất thăng bằng, căng thẳng (Tổ chức y tế thế giới. Việc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ tâm thần cho mọi người là một mục tiêu rất cụ thể, mang tính xã hội nhưng cũng rất cao đẹp, rất lý tưởng và phải phấn đấu liên tục để tiến dần từng bước, cuối cùng đạt được mục tiêu:“Nâng cao chất lượng cuộc 8 sống” của con người Việt Nam, trong đó công tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực này [5,tr. Khái niệm rối nhiễu tâm thần Hiện chưa có một định nghĩa thống nhất nào về rối nhiễu tâm thần. Rối nhiễu tâm thần hay rối loạn tâm thần, sau đây được gọi chung là rối nhiễu tâm thần, nhiều khi được xem như gắn với một loạt những hiện tượng như đau khổ, mất kiểm soát, bất lợi, khuyết tật, thiếu linh hoạt, không hợp lý, mô hình triệu chứng,… Theo WHO: “Rối nhiễu tâm thần bao gồm một loạt các vấn đề, với những triệu chứng khác nhau về suy nghĩ, cảm xúc, hành vi và mối quan hệ xã hội của cá nhân.
Ví dụ như các rối nhiễu tâm thần phân liệt, trầm cảm, chậm phát triển tâm thần và rối nhiễu do lạm dụng ma túy”. Các rối nhiễu này có thể được điều trị thành công [15, tr. Khái niệm Người khuyết tật Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn (điều 2 của Luật Người khuyết tật) [23]. Về dạng tật của người khuyết tật: - Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường ( là dạng thứ 04/06 dạng tật của người khuyết tật).
- Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc (là dạng thứ 05/06 dạng tật của người khuyết tật), (theo điều 2 của NĐ số 28/2012/NĐ-CP) [4]. Về mức độ khuyết tật: a. Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn. Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc.
Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 điều này (điều 3 của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP) [4]. Khái niệm Công tác xã hội CTXH là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó [14]. Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, nhằm giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ.
Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề [22]. Theo Zastrow (1996): “CTXH là hoạt động nghề nghiệp, giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ, để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ”. “CTXH có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng, nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ, nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội”. Tóm lại, CTXH là một khoa học, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế, nhằm nâng cao năng lực, tăng cường các chức năng xã hội nhằm ứng phó với những vấn đề xã hội tiêu cực xảy ra, từ đó hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
10 Người nhân viên CTXH làm việc với nhóm người yếu thế, để hỗ trợ họ vượt qua khoảng thời gian khó khăn và đem đến sự an toàn cho họ. Vai trò của NVCTXH là cung cấp dịch vụ hỗ trợ và khuyến khích để thân chủ sử dụng dịch vụ tự giúp đỡ bản thân. Nhân viên CTXH duy trì mối quan hệ một cách chuyên nghiệp với thân chủ, hoạt động với tư cách hướng dẫn và ủng hộ. Theo Zastrow (1996): “nhân viên xã hội là người được đào tạo về công tác xã hội.
Họ sử dụng kiến thức và kỹ năng để cung cấp các dịch vụ xã hội cho các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng, tổ chức, xã hội”. Nhân viên xã hội giúp đỡ con người tăng cường năng lực đối phó và giải quyết vấn đề, tìm kiếm các nguồn lực cần thiết, tạo điều kiện cho sự tương tác giữa các cá nhân và giữa con người với môi trường, thúc đẩy trách nhiệm của xã hội với con người và tác động đến các chính sách xã hội. DuBois và Miley (2005) lại nhận định nhân viên xã hội là những nhà chuyên nghiệp, có nền tảng kiến thức chuyên môn, có kỹ năng cần thiết, tuân thủ những tiêu chuẩn và đạo đức của nghề công tác xã hội. Các lý thuyết ứng dụng 1.
Thuyết nhu cầu Theo quan điểm của nhà tâm lý học A. Maslow, con người có 5 loại nhu cầu cơ bản. Các nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau, được sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao, bao gồm: Nhu cầu về sinh lý: đây là các nhu cầu cần thiết để con người sống và tồn tại như ăn, uống, ngủ, không khí sạch… khi các nhu cầu này được thỏa mãn, thì con người có xu hướng tìm kiếm, đáp ứng nhu cầu ở bậc cao hơn. Nhu cầu về an toàn: đây là những nhu cầu giúp con người có cuộc sống an toàn, bình yên, ổn định, được sống trong sự bình ổn về kinh tế, về pháp luật, về trật tự xã hội, không bị đe dọa,… Khi nhu cầu sinh lý được thỏa mãn mà nhu cầu an toàn chưa được đáp ứng, thì các nhu cầu an toàn sẽ là động lực điều khiển hành động của con người.
Con người mong muốn một thế giới bình yên, mọi sự mất ổn định đều làm cho người ta lo lắng sợ hãi. 11 Nhu cầu được yêu thương, được kết bạn, được giao tiếp, được tham gia vào các nhóm gắn bó về tình cảm. Đây là những nhu cầu, giúp con người có cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc, con người thấy được giá trị của mình qua tương tác với những người khác và họ cũng học được, hiểu và biết cách sống chung, biết hòa nhập với mọi người, với cộng đồng xã hội. Nhu cầu được tôn trọng: đây là nhu cầu giúp con người sống bình đẳng, tự tin vào khả năng, nhu cầu về vị thế, uy tín, tôn trọng phẩm giá, không bị coi thường, định kiến hoặc chối bỏ… Nhu cầu về lao động, thăng tiến, phát triển: đây là nhu cầu giúp con người phấn đấu, vươn lên, hoàn thiện bản thân, tìm kiếm sự hoàn hảo.
Trong cuộc sống thì con người mong muốn được thỏa mãn những nhu cầu từ bậc thấp nhất và sau đó là vươn tới những nhu cầu ở bậc cao hơn. Các nhu cầu ở bậc càng cao, thì càng ít quan trọng. [16] Đối với NTT thì việc đáp ứng các nhu cầu trên gặp nhiều khó khăn, bởi vì họ không thể tự đi tìm thức ăn, nước uống,… như những người bình thường khác.