CHƯƠNG 1: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁ NHÂN CHƯƠNG 2: KỸ NĂNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁ NHÂN CHƯƠNG 3: CÁC LÝ THUYẾT ÁP DỤNG TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁ NHÂN 1. Khái niệm công tác xã hội với cá nhân Lê Chí An: “là một phương pháp giúp đỡ con người giải quyết các vấn đề khó khăn. Nó mang tính đặc thù, khoa học và nghệ Chương 1: công thuật. Nó giúp các cá nhân có nhưng vấn đề bên ngoài và vấn đề môi trường.
Đó là tác xã hội với một phương pháp giúp đỡ thông qua mối quan hệ để khai thác tài nguyên cá nhân cá nhân và những tài nguyên khác nhằm giải quyết vấn đề. Lắng nghe, quan sát, vấn đàm, vãng gia và đánh giá là nhứng công cụ chủ yếu của công tác xã hội cá nhân. Nhờ tính năng động trong công tác xã hội cá nhân mà cá nhân TC hay thái độ, suy nghĩ và hành vi của mình”. Bà Nguyễn Thị Oanh: “Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp can thiệp (của Công tác xã hội) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm.
Mục đích của Công tác xã hội cá nhân là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thường các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình”. NGUYỄN THỊ OANH (1931 – 2009) Bà Helene Mathew cho rằng: “Công tác xã hội cá nhân là phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua mối quan hệ một-một. Phương pháp này được các nhân viên công tác xã hội ở các cơ sở sử dụng giúp con người có vấn đề về chức năng xã hội và việc thực hiện chức năng của họ”. Sách giáo khoa/bách khoa (Encyclopedia) về công tác xã hội của Philippin: “Công tác xã hội cá nhân là một hình thức cá biệt hóa việc giúp đỡ con người đối phó với những vấn đề cá nhân thường liên quan đến sự sa sút hay gãy đổ trong việc thực hiện các chức năng xã hội một cách đầy đủ” Mary Richmond: “Công tác xã hội cá nhân là tiến những tiến trình phát triển nhân cách nhờ những điều chỉnh được tác động một cách có ý thức, theo từng cá nhân một, giữa con người và một trường xã hội của họ…” có thể định nghĩa Công tác xã hội cá nhân là nghệ thuật thực hiện những việc khác nhau bằng cách hợp tác với họ để cùng đạt rới sự tốt đẹp hơn cho xã hội và cho chính bản thân họ.
Nguyễn Thị Oanh 2. Các nhà Mary Richmond tiên phong Viloria Gordon Hamiltion Bà là người có công trong việc giới thiệu và xây dựng chương trình đào tạo Nv CTXH ở Việt Nam từ đầu vào năm 1960’s và tiếp tục Nguyễn Thị hồi sinh ngành này một thời gian dài bị gián đoạn từ năm 1975-1990. Bà Oanh là Oanh người đã đem những kiến thức và kỹ năng chuyên môn của nghề CTXH vào Việt Nam từ những hiểu biết của bà về thực hiện CTXH từ Mỹ. Mary Richmond Năm 1917 bà xuất bản cuốn Chẩn đoán xã hội (social Diagnosis) giới thiệu lần đầu tiên lý thuyết và pp luận CTXH.
Cuốn sách chú trọng vào nhân viên xã hội can thiệp vào cá nhân Cuốn sách này có tầm quan trọng vì nó hình thành khối kiến thức chung cho CTXH Viloria (1971) Hoặc động CTXH cá nhân tại Philippines Trích dẫn 1 luận án chưa công bố báo cáo về một cơ quan dvxh lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1915 tại bệnh viện đa khoa Philippines Năm 1921, bà nhận Văn bằng về CTXH của Trường đào tạo CTXH New York. Năm 1937, ông đã công bố một báo cáo về cách tiếp cạn chẩn đoán và chủ yếu vào lý thuyết của Freud trong tìm Gordon kiếm các vấn đề cá nhân. Bó cáo mang tính diễn giải và dự kiến Hamiltion Bao gồm: pp đáp ứng sự thiếu hụt nguồn lực xh, sửa đổi chương trình, điều chỉnh nguồn lực cũng như tư vấn hoặc điều trị 3. Một số mốc Công tác xã hội cá nhân hình thành bắt đầu lịch sử hình vào cuối những năm 1800.
Lúc đầu công tác xã hội được khởi xướng từ hoạt động giúp đỡ thành nên những người thất nghiệp, trẻ mồ côi… của các tổ chức từ thiện COS (Charity CTXH với cá Organization Society) ở Anh và Mỹ. Công cụ chủ yếu: THAM VẤN nhân Năm 1917, Mary Richmond cuốn: “Chẩn đoán xã hội”: các bước của quá trình can thiệp gồm thu thập thông tin, chuẩn đoán vấn đề, lên kế hoạch xử lý. Đến năm 1920, khoa học xã hội chứng kiến sự phát triển của khoa học tâm lý-tiêu biểu là Sigmund Freud và thuyết “Phân tâm học” Vào những năm 50-60, công tác xã hội với cá nhân chú ý tới các yếu tố gia đình họ, những ảnh hưởng của môi trường tới hành vi, thái độ của họ Ngày nay, với nhiều ảnh hưởng khác nhau xoay quanh cá nhân, trọng tâm của sự can thiệp không chỉ còn là cá nhân mà là sự nhận thức về sự hỗ trợ tương giữa nhân cách và môi trường với trọng tâm là “ con người trong hoàn cảnh”, chịu ảnh hưởng của tâm thần học, tâm lý học và văn hóa. Tiến trình để hỗ trợ cho 1 cá nhân Khái niệm: căn bản là tiến trình giải quyết vấn đề.
Gồm 7 bước: -xác định vấn đề Giai đoạn đầu nghiên cứu -thu thập dữ kiện -thẩm định chuẩn đoán Giai đoạn 2 -kế hoạch trị liệu -thực hiện kế hoạch Giai đoạn 3 -lượng giá -tiếp tục hay chấm dứt Xác định vấn đề CTXHCN bắt đầu với việc xác định vấn đề do thân chủ trình bày. Đó là vấn đề đã gây ra cho anh ta nhiều khó khăn và sự mất cân bằng trong chức năng tâm lý xã hội. Bước này diễn ra ở giai đoạn “đăng ký”, nghĩa là khi TC tự mình hay được giúp đỡ để chính thức yêu cầu một sự giúp đỡ của cơ quan. Thu thập dữ kiện Trước tiên NVXH tìm hiểu hoàn cảnh của TC thông qua sự trình bày của anh ta.
Sau khi xác định tính chất của vấn đề NVXH tìm hiểu sâu hơn nữa tại sao nó xảy ra. Mục đích của cuộc thu thập dữ kiện này là để giúp NVXH thử làm một chẩn đoán về cá nhân trong tình huống và trên cơ sở đó lên một kế hoạch trị liệu. Chuẩn đoán Gồm 3 bước: chẩn đoán, phân tích, thẩm định. Khi hoàn thành cuộc thẩm định tình huống có vấn đề và cá nhân liên quan trong đó, NVXH làm ngay một kế hoạch trị liệu cho dù đây mới là tạm bợ.
Kế hoạch trị liệu Phải dựa trên cơ sở những thông tin thu thập được từ chính TC và hiểu biết của NVXH về các hệ thống hổ trợ, hệ thống mục tiêu. Kế hoạch phải mang tính bao quát ở các mức can thiệp khác nhau (vi mô, trung mô, vĩ mô- nếu cần thiết) Thực hiện kế hoạch Giám sát tiến trình và nội dung Ghi chép lại quá trình thực hiện, đánh dấu những diều chưa làm được, những diều tiến bộ, những điều cản trở tiến trình phát triển. Hổ trợ TC trong việc theo đuổi kế hoạch Có kỹ năng nhận biết sự thay dổi Lượng giá từng giai đoạn nhỏ và có sự điều chỉnh kịp thời Vai trò của NVXH: giảm dần Vai trò của TC: tham gia nhiều hơn, chủ động hơn Phát triển một số kế hoạch tiếp theo (nếu cần) Lượng giá Lượng giá về tiến trình và kết quả đần ra: những việc đã làm được, chưa làm được, nguyên nhân, những kiến nghị, đề xuất. Lưu ý: Lượng giá này dựa trên những công việc thực hiện được nhằm hướng đến việc giải quyết vấn đề của TC Kết thúc NVXH có thể phát triển một số kế hoạch tiếp theo để thân chủ theo đuổi thực hiện.
Thông thường, giai đoạn kết thúc diễn ra khi các mục tiêu can thiệp đạt được hay vấn đề cuả thân chhủ được giải quyết. Tuy nhiên, vẫn còn có một số lý do khác khiến việc can thiệp phải kết thúc đột ngột: - Thân chủ tự vượt qua được - Thân chủ không đủ khả năng theo đuổi kế hoạch - Thân chủ qua đời - Thân chủ không đồng ý tiếp nhận dịch vụ - Chuyển tuyến …. Các kết quả có thể đạt được Vấn đề được giải quyết Vấn đề chưa giải quyết nhưng TC có thể tiếp tục sống với những lý do có thể chấp nhận được Dẫn đến sự thay đổi trong cảm xúc của TC đối với vấn đề, giúp TC đối diện với vấn đề 6. Các nguyên tắc đạo đức nghề đối với CTXH với cá nhân Chấp nhận TC Tôn trọng quyền tự quyết của TC Tôn trọng sự khác biệt Giữ bí mật của TC Chấp nhận thân chủ Mỗi người dù là bình thường họ đều có nhân phẩm, giá trị riêng và cần được tôn trọng.
Chấp nhận không có nghĩa là không chấp nhận hành vi của họ. Thực hiện được nguyên tắc này sẽ tạo được lòng tin của TC Tôn trọng quyền tự quyết của TC Định kiến về người khác luôn tồn tại kể cả nvCTXH. Điều này ảnh hưởng lớn đến nghề nghiệp và hoạt động trợ giúp đối với TC của họ. Ví dụ: làm việc với những người có tiền án, ma túy, mại dâm… Vì vậy cần phải chú ý vào nguyên tắc này để tôn trọng TC Tôn trọng sự khác biệt Mỗi con người đều có những nhu cầu khác nhau và tính cách khác nhau Vì vậy đòi hỏi NVXH đưa ra pp thích hợp với những trường hợp cụ thể để đáp ứng nhu cầu, nhằm rèn luyện chức nagw ứng phó linh hoạt cho TC Giữ bí mật TC Giữ bí mật thông tin cho TC là 1 trong những nguyên tắc cơ bản thể hiện sự tôn trọng đv các vấn đề riêng tư của TC NVXH chỉ được chia sẻ thông tin khi được TC cho phép hoặc khi TC có những biểu hiện làm hại đến những người xung quanh 7.
Các thành tố có thể nói có 4 thành tố trong một tình huống công tác xã hội cá nhân: Yếu tố con người (person) là nam hay nữ, già hay trẻ. Họ cảm thấy bản thân có vấn đề hoặc do người khác nhận ra vấn đề của họ, hơn nữa bản thân họ thấy cần trợ giúp.