chương 1 bao gồm: Khái niệm, đối tượng, mục đích, chức năng của Công tác xã hội; Vai trò của nhân viên Công tác xã hội; Công tác xã hội trong mối quan hệ với các lĩnh vực và ngành khác; Phương pháp nghiên cứu và phương pháp can thiệp trong công tác xã hội; Lịch sự hình thành và phát triển công tác xã hội tại Việt Nam và Thế giới. Một số khái niệm trong công tác xã hội 1. Khái niệm công tác xã hội Công tác xã hội là một khoa học xã hội ứng dụng, là một nghề chuyên môn, ra đời vào khoảng đầu thế kỷ XX ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về công tác xã hội.
Theo từ điển Bách khoa ngành Công tác xã hội (1995): “Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội”. Theo Liên hiệp Công tác xã hội Thế giới: “Công tác xã hội là hoạt động chuyên môn nhằm giúp con người đáp ứng các nhu cầu nảy sinh trong cuộc sống, trong quá trình tương tác giữa cá nhân và môi trường, giúp con người phát huy hết tiềm năng của họ”. Đại hội của Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế tổ chức tại Motreal (Canada) vào tháng 7 năm 2004, đã đưa ra một định nghĩa về Công tác xã hội như sau: “Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực, giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng tốt đẹp. Vận dụng lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội can thiệp sự tương tác giữa con người và môi trường của họ.
Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề công tác xã hội”. Hội đồng đào tạo công tác xã hội Mỹ xem công tác xã hội như một nghề nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những hoạt 9 động tập trung vào mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con người và môi trường. Những hoạt động này có thể bao gồm 3 nhóm: Phục hồi năng lực đã bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội và phòng ngừa sự suy giảm chức năng xã hội. Các nhà công tác xã hội ở Việt Nam cũng có cách nhìn khác về công tác xã hội.
Tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: “Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp chuyên môn, nhằm hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết các vấn đề xã hội của họ. Công tác xã hội theo theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội”. Từ những quan niệm, định nghĩa trên có thể đi đến khái niệm về công tác xã hội như sau: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội” (TS. Bùi Thị Xuân Mai).
Để công tác xã hội đi theo hướng chuyên môn hóa thì cần phải đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội ở các ngành, các cấp, các đoàn thể xã hội. Có như vậy mới tăng cường hiệu quả của công việc, phát huy tối đa tiềm năng của các cá nhân, gia đình và xã hội trong quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện cuộc sống. Qua những phân tích trên cho thấy có những cách tiếp cận khác nhau về công tác xã hội, song trong các khái niệm trên đều những điểm chung sau đây: - Công tác xã hội là một khoa học, một hoạt động chuyên môn bao gồm hệ thống kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ đặc thù và những quy định chuẩn mức đạo đức nghề nghiệp khi thực hành loại ngành nghề này; - Đối tượng tác động của công tác xã hội là cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng công tác xã hội đặc biệt chú ý tới nhóm người yếu thế trong xã hội như trẻ em, phụ nữ, gia đình nghèo, người già, người khuyết tật… bởi họ là những người có vấn đề về khó khăn trong hòa nhập xã hội, khó khăn trong đáp ứng nhu cầu cơ bản; - Hướng trọng tâm của công tác xã hội là tác động tới con người như một tổng thể; tác động tới con người trong môi trường xã hội của họ. Công tác xã hội tác động tới mối quan hệ tương tác qua lại giữa nhóm đối tượng và môi trường xã hội, thúc đẩy các điều kiện xã hội để cá nhân, gia đình tiếp cận được với chính sách, 10 nguồn lực xã hội cho sự phát triển.
Công tác xã hội trợ giúp con người không chỉ qua việc can thiệp vấn đề của cá nhân, gia đình mà còn can thiệp các vấn đề của cộng đồng; - Mục đích của công tác xã hội là hướng tới giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng phục hồi hay nâng cao năng lực để tăng cường chức năng xã hội, tạo ra những thay đổi về vai trò, vị trí của cá nhân, gia đình, cộng đồng từ đó giúp họ hòa nhập xã hội; - Vần đề mà cá nhân, gia đình hay cộng đồng gặp phải và cần tới sự can thiệp của công tác xã hội là những vấn đề có thể xuất phát từ yếu tố chủ quan cá nhân như sự hạn chế về thể chất, khiếm khuyết về sức khỏe, tâm thần, thiếu việc làm, không được đào tạo chuyên môn, nghèo đói, quan hệ xã hội suy giảm. Những vấn đề của họ cũng có thể nảy sinh từ phía khách quan đó là cộng đồng, môi trường xung quanh bởi môi trường đó không cung cấp hay không tạo điều kiện cơ hội để cá nhân gia đình hay cộng đồng được tiếp cận nguồn lực nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Khái niệm nhân viên xã hội Trong nhiều tài liệu tiếng Việt có thể gặp những khái niệm: Nhân viên xã hội, nhân viên công tác xã hội, cán sự xã hội, người trợ giúp. Trong tài liệu này chúng tôi sử dụng thuật ngữ nhân viên xã hội.
Trong tài liệu tiếng Anh chỉ có một thuật ngữ là Social Worker. Nhân viên xã hội (social worker) được Hiệp hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp Quốc tế - IASW định nghĩa: “Nhân viên xã hội là người được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”. Khái niệm về nhân viên xã hội ở trên cho thấy nhân viên xã hội là người cần được đào tạo và trang bị những kiến thức kỹ năng chuyên môn. Nhân viên xã hội thực hiện các nhiệm vụ của ngành nghề, đó là: - Trợ giúp cá nhân, gia đình giải quyết vấn đề khó khăn; - Nối kết họ với các dịch vụ và nguồn lực trong xã hội; - Thúc đẩy sự cung cấp dịch vụ trợ giúp và nguồn lực có hiệu quả; 11 - Tham gia vào xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội.
Qua những phân tích ở phần trên về chức năng nhiệm vụ của nghề công tác xã hội có thể thấy nơi làm việc của nhân viên xã hội ở phạm vi khá rộng: - Lĩnh vực phụ trách về giải quyết các vấn đề xã hội (nhiều nước có Bộ Xã hội, ở Việt Nam đó là Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội); - Lĩnh vực về Y tế: Trong các bệnh viện, cơ sở y tế công cộng.; - Lĩnh vực Giáo dục: Trong các trường học, cơ sở đào tạo; - Lĩnh vực Luật pháp: Trong các tòa án, nhà tù.; - Lĩnh vực chính trị (tham gia vào các nghị viện nhằm đưa tiếng nói của đông đảo quần chúng, nhóm yếu thế tới nghị viện khi thông qua các luật pháp, chính sách an sinh xã hội.); - Ngoài ra còn làm trong các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức NGOs, các tổ chức đoàn thể (đặc biệt như ở Việt Nam là làm trong các Hội Phụ nữ, Chữ Thập đỏ, Đoàn Thanh niên. Đối tượng công tác xã hội (đối tượng nghiên cứu và đối tượng can thiệp) 1. Đối tượng trợ giúp/can thiệp của công tác xã hội Đối tượng trợ giúp/can thiệp của công tác xã hội là cá nhân, gia đình, nhóm người hay cộng đồng đang trong hoàn cảnh có vấn đề. Cá nhân có thể là người già hay người trẻ, người giàu hay người nghèo… Khi họ gặp phải khó khăn trong cuộc sống và không tự giải quyết được họ mong muốn có sự trợ giúp.
Người nghèo cần có sự trợ giúp về vật chất và tinh thần để vượt qua nghèo khó. Người giàu khi rơi vào hoàn cảnh khủng hoảng tinh thần (như phá sản, thua lỗ, sức ép công việc hay sự cạnh tranh trong kinh doanh…) đều có thể cần tới sự can thiệp trợ giúp của nhân viên xã hội. Tuy nhiên, đối tượng thường được hướng tới trong hoạt động trợ giúp của công tác xã hội là những nhóm người yếu thế như người nghèo, người lang thang cơ nhỡ, những người bị HIV/AIDS hay những người mại dâm ma túy… Có thể liệt kê một số nhóm đối tượng yếu thế thường được công tác xã hội chú trọng trợ giúp: - Phụ nữ; - Trẻ em; - Người già; 12 - Cha mẹ đơn thân; - Người thất nghiệp; - Các nạn nhân của bạo lực gia đình; - Trẻ em lang thang, bị bỏ rơi, mồ côi, trẻ bị lạm dụng; - Các nạn nhân do thiên tai, hiểm họa; - Những người có ý định tự sát; - Những người vô gia cư; - Những người khuyết tật; - Người bị bệnh tâm thần; - Những người phạm pháp; - Người nghèo; - Người thiểu số; - Những người nghiện; - Người mại dâm.