PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang là một vấn đề nổi bật mang tính toàn cầu, BĐKH biểu hiện sự thay đổi và xáo trộn về môi trường sống của người dân, cụ thể là mực nước biển dâng cao, xâm nhập mặn (XNM) ăn sâu vào đất liền, thời tiết liên tục thay đổi, ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống của người dân. Đặc biệt là ảnh hưởng lớn đến sinh kế hiện tại của người dân, gây ra những hậu quả nhất định như nguồn nước, nhà cửa và toàn bộ an sinh xã hội của cả một khu vực chịu ảnh hưởng của BĐKH “Những thay đổi về lượng mưa và các sự kiện thời tiết khắc nghiệt sẽ làm giảm sản lượng cây trồng ở nhiều vùng khác nhau.Nước biển dâng cao dẫn đến mất đi những vùng đất ven biển và nạn xâm thực của nước mặn, có thể làm giảm năng suất sản xuất nông nghiệp” (Pisupati, B. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất so với trong cả nước, với mức độ và tốc độ BĐKH như hiện nay, người dân ĐBSCL sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề và đa dạng về đời sống sinh kế như môi trường sống, tài nguyên nước, biến đổi sinh học vật nuôi cây trồng, sức khỏe cộng đồng, y tế, giáo dục và các vấn đề xã hội khác.
Toàn bộ người dân ở ĐBSCL, nhất là nông dân, ngư dân, người già, trẻ em, phụ nữ bị đe dọa đến đời sống sinh kế khi BĐKH tác động trực tiếp đến họ, nhất là những hộ dân sống vùng ven biển, vùng bãi ngang, vùng sâu… Bến Tre là một tỉnh nằm trên 03 dãy cù lao thuộc ĐBSCL cũng chịu ảnh hưởng của BĐKH rất nặng nề theo một hệ thống chung,BĐKH gia tăng làm cho người dân Bến Tre bị tổn thương về sinh kế vì một số người dân sống dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn có ở vùng ven biển. Người dân ở đây sinh sống bằng nghề trồng lúa nước, một bộ phận khác thì đánh bắt và nuôi trồng thủy sản vì Bến Tre có chiều dài tiếp giáp biển đông trên các dãi cù lao chịu sự khắc nghiệt của vùng nhiệt đới gió mùa và ảnh hưởng trực tiếp từ các cơn bão, cũng như nhiều vùng bị xâm nhập mặn. Thành phố Bến Tre là đô thị thuộc tỉnh Bến Tre, gọi là đô thị do nơi đây là nơi tập trung dân cư, khu hành chánh của tỉnh cũng là nơi trung tâm giao dịch các dịch vụ thương mai, văn hóa, giáo dục. Nhưng xét về mặt địa lý thì thành phố Bến Tre tiếp giáp với biển không xa lắm, hầu như ba mặt của thành phố Bến Tre đều tiếp giáp biển và cách bờ biển 2 khoảng 30 km, cho nên mọi BĐKH mà tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng thì gần như thành phố Bến Tre phải chịu ảnh hưởng theo.
Người dân ở đây bị nhiều tổn thương do BĐKH chủ yếu là do BĐKH ngày càng có chiều hướng tăng hơn mà khả năng thích ứng của người dân rất hạn chế để ứng phó với rủi ro. Mặt khác, người dân ở đây đa số lại lại làm việc gắn liền với các lĩnh vực nhạy cảm với BĐKH, do đó để giảm thiểu thiệt hại do BĐKH gây ra thì đòi hỏi phải có toàn bộ hệ thống chính trị vào cuộc để hỗ trợ cho người dân về nhiều mặt, và xem như đây là trách nhiệm của cộng đồng. Bên cạnh đó, bản thân từ hộ dân cũng phải nhận thức rõ tác hại của BĐKH để nâng cao nhận thức và khả năng thích ứng của mình với BĐKH. Cụ thể là phải có khả năng thích ứng với thay đổi sinh kế một cách phù hợp từ sự định hướng của chính quyền địa phương và NVCTXH hỗ trợ một cách quyết liệt.
Vai trò của NVCTXH ở từng địa phương là quan trọng. Tuy nhiên trong điều kiện BĐKH ở ĐBSCL nói chung và ở thành phố Bến Tre nói riêng thì NVCTXH chưa phát huy hết vai trò của mình trong việc xâm nhập sâu vào đời sống cộng đồng bởi những lý do nhất định. Nếu phát huy tối đa vai trò của NVCTXH hỗ trợ người dân thành phố Bến Tre thay đổi sinh kế cho người dân trong điều kiện BĐKH thì sẽ giảm thiểunhững thiệt hại và đồng thời nâng chất lượng sống của người dân ở đây một cách ổn định. Chínhvì những lí do trên nên chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Vai trò của NVCTXH hỗ trợ cộng đồng thay đổi sinh kế trong điều kiện biến đổi khí hậu tại thành phố Bến Tre” để thực hiện.
Tổng quan nghiên cứu 2. Nghiên cứu trên thế giới 2 1 1 Nghiên cứu v biến đổi khí hậu và ảnh h ng của biến đối khí hậu đến đ i sống sinh kế Trước những hiểm họa và thách thức lớn về khí hậu đối với nhân loại, LHQ đã ra Công ước khung của LHQ về BĐKH (UNFCCC) đã được chấp nhận vào ngày 9/5/1992 tại trụ sở của LHQ ở New York. Với mục tiêu là ngăn ngừa những tác hại mà con người gây ra đối với BĐKH. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất từ tác động của BĐKH.
Thiên tai, dịch bệnh… nên Việt Nam đã sớm tham gia và phê chuẩn Công ước khung của LHQ về BĐKH (tháng 11/1994) và Nghị định thư Kyoto (tháng 9/2002). Đồng thời, Chính phủ cũng đã ký quyết định phê duyệt Chiến l ợc quốc gia v BĐKH. Trước sự quan tâm của Đảng và nhà nước cũng như các tổ chức quốc tế, Việt 3 Nam đã đạt được một số thành công bước đầu trong thích ứng với BĐKH, được quốc tế ghi nhận. Khu vực Đông Nam Á, có dự án Cải thiện sức chống chịu với tác động của BĐKH vùng ven biển Đông Nam Á (BCR) đã được triển khai thực hiện từ năm 2011 và kết thúc vào năm 2014.
Dự án này giúp cho người dân có được kỹ năng xây dựng kế hoạch và thích ứng với các hiểm họa từ BĐKH gây ra trong tương lai tại các tỉnh ĐBSCL và các quốc gia lân cận. Tại Châu Á và khu vực Thái Bình Dương, có nhiều trung tâm nghiên cứu ở nhiều trường đại học tại Việt Nam. Theo W Sun, H Ishidaira, S Bastola, J Yu (2015): "Mục tiêu mạng l ới cũng nh của hội thảo này là nhằm chia sẻ các kinh nghiệm và ý t ng mới liên quan tới môi tr ng và công tác quản lý l u vực sông Cho tới nay, tr ng của chúng tôi đã thiết lập đ ợc các mối liên kết và hợp tác với nhi u cơ s các n ớc châu Á" Tác giả Quang Nguyễn (2020), nghiên cứu sinh tại đại học Victoria, Wellington, New Zealand trong bài viết “Ứng phó với BĐKH qua các kỳ COP: Ít t ơng đồng, nhi u khác biệt” đã đưa ra những điểm tóm tắt chính thể hiện sự khác biệt trong quan điểm và cách tiếp cận của các nước. Đây được xem là nguyên nhân chính tạo nên những cách biệt tưởng chừng không thể san lấp, như vậy LHQ nhìn nhận về BĐKH như là một pháp lý hữu hiệu cho toàn cầu.
Nghiên cứu v kỹ năng thích ứng với biến đối khí hậu trong đ i sống sinh kế Nghiên cứu của Holger Meinke, Rohan Nelson, Phil Kokic, Roger Stone, Ramasamy Selvaraju, Walter Baethgen (2006) đã nghiên cứu bằng các phương pháp thực tiễn để cho ra những tiên đoán về mức độ tổn thương do BĐKH cũng như các giải pháp thích ứng trong SXNN tại Bangladesh. Tác giả Smith and Wandel (2006); Osbahr và cộng sự (2008); ADB (2009) và USAID (2009) đã nghiên cứu sự ứng phó của cá nhân đối với BĐKH được thể hiện qua các hoạt động cụ thể nhằm giảm thiểu tổn thương nhất do BĐKH gây ra, hầu hết các biện pháp thích ứng được chia ra thành các loại như thích ứng mang tính phòng ngừa, thích ứng đối phó, thích ứng mang tính tự phát, thích ứng có kế hoạch, thích ứng của khu vực tư nhân, thích ứng của khu vực cộng đồng, thích ứng của khu vực công. Tác giả Fan và Li (2006) cho thấy Trung Quốc là nước nằm trong các quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ BĐKH đặc biệt là ảnh hưởng của mực nước biển dâng. Mực nước biển dâng làm tăng xói lở bờ biển, nước mặn xâm thực vào đất liền nhanh hơn.
Ở Châu thổ 4 sông Hoàng Hà phía Bắc tỉnh Giang Tô, bờ biển đã bị xâm lấn sâu vào trong rất xa và hầu như bị nhấn chìm từ năm 1985. Tại Ấn Độ, tác động của BĐKH đến Phá Chilika là lũ lụt, hạn hán, nắng nóng và lốc xoáy. Đời sống của người dân bị tác động bởi điều kiện tự nhiên. Nhiệt độ trung bình tại vùng Chilika dao động trong khoảng từ 140C đến 39,90C.
Mặc dù sự biến đổi về nhiệt độ tại đây còn ít nhưng vẫn có chiều hướng nhiệt độ ấm lên và nóng hơn bình thường. Điều này sẽ ảnh hưởng một cách cơ bản đến đời sống của cộng đồng. Những ảnh hưởng nặng nề của BĐKH làm cho đời sống cộng đồng bị thay đổi, điều này ảnh hưởng nhất định đến sinh kế và đời sống sinh nhai hằng ngày của họ. Tại Thái Lan, nghiên cứu của Corinne (2008), Thái Lan là quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, biến đổi khí hậu đã và đang đe dọa nghiêm trọng nền kinh tế của Thái Lan, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của quốc gia “vựa lúa của Châu Á”.
Tác động của biến đổi khí hậu: nhiệt độ bề mặt tăng cao hơn, lũ lụt, hạn hán, bão và nước biển dâng đe dọa nhấn chìm Bangkok trong vòng 20 năm. Bangkok là nơi cư trú của hơn 10 triệu người, đã bị chìm xuống 10 cm mỗi năm do sức lún của đất, cộng với nước biển dâng, Bangkok sẽ chìm trong khoảng 15 - 20 năm nữa nếu Chính phủ nước này không có biện pháp thích ứng. Tại Camerun, theo nghiên cứu của Molua (2009), với diện tích 475,442 km2 và đường bờ biển dài 360 km, Camerun nằm ở phía Tây của Trung Phi, một phần của Vịnh Guinea và Đại Tây Dương.Ở đây sự nguy cơ từ BĐKH khá cao so với những nơi khác, có thể gây thiệt hại về người và của cải vật chất, nhất là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Nhiều người dân ở đây sống bằng nghề nông nghiệp và khai thác thủy sản, do đó đời sống sinh kế của người dân luôn bị đe dọa bởi lũ lụt, xâm nhập mặn và đôi khi bị lốc xoáy.
Dân tộc Camerun có nhiều kinh nghiệm trên việc lập kế hoạch và chiến lược phòng ngừa rủi ro một cách khá chủ động, tuy nhiên những chiến lược này chưa phải là chiến lược dài hạn cũng như một chính sách lâu dài.