Chương 1: Những lý luận cơ bản về thu bảo hiểm xã hội. Chương 2: Công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Nguyên. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Nguyên. CHUONG 1: LÝ LUẬN CƠ BAN VE THU BẢO HIỂM XÃ HOI 1.
Khái quát về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm về bảo hiém xã hội Từ khi loài người sinh sống thành cộng đồng thì các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng được hình thành và cũng từ đó nảy sinh những vấn đề xã hội. Xã hội loài người càng phát triển thì những vấn đề xã hội cũng càng ngày phức tạp hơn. Mỗi chế độ chính trị - xã hội khác nhau có những vấn đề xã hội mang tính chất riêng nhưng cũng có những vấn đề xã hội mang tính chất chung, đều phải giải quyết không chỉ vấn đề xã hội hiện tại mà còn phải giải quyết hàng loạt vấn đề mà xã hội cũ đề lại cũng như giải quyết những vấn đề của tương lai.
Công cụ điều chỉnh các vấn đề xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng, đó chính là những chính sách định hướng phát triển xã hội. Nó được biểu hiện là công cụ của Nhà nước được thể chế hoá nhằm tác động vào mối quan hệ xã hội, thực hiện công băng xã hội, bình đăng xã hội, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người. Trong cuộc sông, con người luôn có những nhu cầu cơ bản nhất như: ăn, mặc, ở, đi lại, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí. Dé thoả mãn những nhu cau nay, con người phải lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất.
Trong quá trình đó con người không tránh khỏi quy luật “Sinh, lão, bệnh, tử”. Trong đời sống thực tế thường xảy ra trường hợp như: ốm dau, tai nạn, tuôi già. Điều này làm suy giảm kha năng lao động, dẫn đến tình trạng giảm thu nhập. Do vậy, cần có biện pháp cụ thể làm sao vẫn đảm bảo được thu nhập dé thoả mãn được nhu cầu cần thiết của cuộc sống Song song với những rủi ro không thê lường trước.
Các nhà nghiên cứu chính sách xã hội gọi đó là nhu cầu BHXH. Vậy, BHXH là gì: BHXH ra đời và phát triển lúc đầu còn mang tính tự phát về sau được nhà nước luật pháp hóa các chế độ BHXH. Hiện nay, hơn 140 quốc gia trên thế giới đang triển khai BHXH; tuy nhiên khác nhau ở cách thức thực hiện. Tuỳ thuộc vào mỗi mỗi quốc gia với tập quán và điều kiện kinh tế khác nhau mà lựa chọn cơ chế và mức độ thoả mãn nhu cầu BHXH phù hợp.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về BHXH, tùy theo các góc độ tiếp cận và nghiên cứu người ta đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau như: Khái niệm chung được nhiều quốc gia công nhận: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phan thu nhập đối với NLD khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho NLD và gia đình ho góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) cho rằng: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng dé đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi 6m đau, mat khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ câp cho các gia đình đông con”. Theo quan điểm của Việt Nam, BHXH là “Sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc bị mat việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sông của gia đình họ, đồng thời đảm bảo an toàn xã hội”. Hơn thế nữa, BHXH được hiểu theo các góc độ khác nhau: - Dưới giác độ lý luận: BHXH là cơ sở pháp lý dé bảo vệ quyền lợi NLD thông qua việc giải quyết mọi quy định do Nhà nước ban hành đối với các đối tượng tham gia BHXH.
- Dưới giác độ chính trị: BHXH được hiểu là sự liên kết giữa Đảng, Nhà nước, PVSDLD với quan chúng nhân dân lao động vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. BHXH góp phần kết nối những NLD xuất phát từ lợi ích chung của họ. - Dưới giác độ kinh tế: có thể hiểu BHXH là sự phân phối lại thu nhập được đóng góp vào quỹ chung gọi là quỹ BHXH của các bên tham gia BHXH nhăm dam bảo ổn định thu nhập cho NLD và gia đình họ khi mất hoặc giảm sút sức lao động khi ốm đau, tuổi già, hay thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp hoặc chết. Ban chất của BHXH là mối quan hệ giữa 3 bên đó là NLD, NSDLĐ và cơ quan BHXH.
Trong các luật BHXH, hoặc các văn bản BHXH dưới luật, quản lý chặt chẽ mọi đối tượng có liên quan và ở đây trách nhiệm đóng của NLĐ, NSDLĐ cho cơ quan BHXH; và được quyền lợi chi trả khi đủ điều kiện hưởng. Vậy thực chất BHXH chính là cam kết của cơ quan BHXH đảm bảo thực hiện trách nhiệm và quyên lợi NSDLD va NLD trong và sau quá trình làm việc. Từ cơ sở lý luận trên, có thể thấy BHXH là nhu cầu cần thiết khách quan của con người và vì thế BHXH là một bộ phận rất quan trọng trong chính sách ASXH của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam. Đặc diém của bảo hiém xã hội BHXH ra đời và phát triển trong nền kinh tế hàng hoá, đầu tiên là hình thức tự bảo hiểm của nhóm NLD, sau đó đến người chủ và cả Nhà nước tham gia.
BHXH thường do một cơ quan trung gian đảm nhận có nhiệm vụ tập trung, thống nhất nguồn quỹ do các bên đóng góp vào và thực hiện chi trả các chế cho NLD khi có nhu cầu phát sinh. Vì vậy, có thể tóm tắt những đặc trưng cơ bản của BHXH là: - Là loại bảo hiểm cho NLD trong và sau quá trình lao động; nói cách khác, khi đã tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, NLĐ được đảm bảo thu nhập cho đến khi chết. Khi đang còn hiệu lực hợp đồng lao đồng, cả lao động nam và lao động nữ sẽ có thê được hưởng trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề và cả thai sản. Còn khi hết tuổi lao động, được hưởng trợ cấp 1 lần khi nghỉ hưu và nếu đủ điều kiện về thời gian đóng và độ tuổi quy định sẽ được hưởng trợ cấp hàng tháng.
Thậm chí khi chết người thân của họ được hưởng tiền mai táng và trợ cấp tuất. Đây là đặc trưng riêng của BHXH mà không một loại hình bảo hiểm nào có được. - Đặc trưng tiếp theo về mối quan hệ giữa đóng và hưởng. Đối với tất cả các loại hình bảo hiểm, phải có đóng góp mới có quyền lợi hưởng.
Điểm khác biệt lớn nhất của BHXH là nghĩa vụ đóng góp của DVSDLD đối với NLD. - Ngu6én thu của quỹ BHXH rất đa dạng, được hình thành từ nhiều nguồn thu khác nhau như: thu đóng góp của NLĐ và NSDLĐ, bù thiếu của Nhà nước, các khoản chậm đóng BHXH. Ngoài ra, việc phát triển quỹ BHXH cũng được quan tâm bằng cách đem đầu tư quỹ nhàn rỗi sinh lời theo quy định. Chi phí hoạt động của bộ máy BHXH và thanh toán các khoản trợ cấp cho NLD đều được trích từ nguồn quỹ chung.
Như vậy, có thể thấy quỹ BHXH là một quỹ xã hội, nhưng vừa là quỹ tài chính, vừa là quỹ phát triển. Do sự cần thiết về đảm bảo thu nhập khi có rủi ro xảy đến, tại Việt Nam, chính sách BHXH được ban hành và hình thành nên quỹ BHXH do sự đóng góp của NSDLĐ, NLĐ, Nhà nước hỗ trợ và các nguồn tài trợ khác. Số tiền mà các bên đóng góp được tập trung vào một quỹ riêng nằm ngoài Ngân sách Nhà nước gọi là quỹ BHXH, được thống nhất quản lý dé chi trả trợ cấp cho các đối tượng và chi cho các khoản chi khác theo quy định; công tác này được đảm bảo thực hiện bởi BHXH Việt Nam. BHXH đảm bảo cho NLD khi gặp rủi ro liên quan đến các van đề như ốm đau, tai nạn xảy ra trong quá trình làm việc, bệnh ảnh hưởng bởi tính chất công việc, già yếu và cả nghỉ sinh đẻ, nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi.
Khi đủ điều kiện về thời gian đóng, cùng mức đóng NLD được nhận một khoản tiền gọi là trợ cấp chế độ dé ồn định thu nhập và đời sống của chính họ và cả gia đình; phụ thuộc vào tiền lương làm cơ sở đóng BHXH. Công tác thu- nộp và chi trả của BHXH đều được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước bảo hộ cho mọi hoạt động của BHXH bằng cách ban hành các văn bản pháp luật về BHXH: quy định nhiệm vụ và quyền hạn các bên tham gia BHXH cho phù hợp với điều kiện của đất nước. BHXH được áp dụng rộng rãi và thống nhất trong cả nước được quy định rất rõ trong luật BHXH 2014 đối với các đối tượng sau : “ cán bộ công nhân viên chức, NLĐ trong các DN thuộc mọi thành phần kinh tế hợp đồng lao động từ 01 tháng trở lên”.
Vai trò của bảo hiểm xã hội BHXH ra đời là một yêu cầu tất yếu khách quan nó góp phần hoàn thiện hệ thống công cụ quản lý xã hội ở nước ta; nó bảo đảm day đủ lợi ích và nghĩa vụ của mỗi công dân đối với đất nước và đối với bản thân mình, thực hiện “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Mức độ phát triển của một nền kinh tế- xã hội là nền tang dé hệ thống BHXH phát triển. Nền kinh tế của các quốc phát triển sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiện BHXH dễ dàng hơn so với các nước kém phát triển hơn. Ngược lại hoạt động của BHXH kém hiệu quả sẽ gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế cũng như nền tảng của xã hội.