PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Thông tin di động là ngành kinh tế có sự tăng trƣởng mạnh mẽ trong nền kinh tế nƣớc ta. Từ DN đầu tiên đƣợc thành lập năm 1993, cho đến nay cả nƣớc đã có 6 DN kinh doanh trong lĩnh vực thông tin di động. Tính đến tháng 12/2012, số lƣợng thuê bao di động ở Việt Nam đã đạt hơn 131,7 triệu thuê bao; nhiều hơn dân số 90 triệu; tính bình quân 100 ngƣời dân có 148,33 máy điện thoại di động; số thuê bao 3G đạt 15,7 triệu máy.
Doanh thu từ dịch vụ viễn thông di động đạt gần 6,5 tỷ USD tăng gần 20% so với năm trƣớc và chiếm 76,43% doanh thu dịch vụ viễn thông [7, tr. Theo lộ trình cam kết khi ra nhập WTO, đến nay Việt Nam đã mở cửa cho phép nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ vào thị trƣờng dịch vụ viễn thông. Cam kết này một mặt tạo cơ hội cho viễn thông Việt Nam theo kịp công nghệ hiện đại của viễn thông thế giới nhƣng mặt khác cũng tạo ra sức ép cạnh tranh đòi hỏi các DN viễn thông Việt Nam phải nâng cao hiệu quả kinh doanh để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng. Khả năng cạnh tranh của các DN viễn thông phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Tuy nhiên, giá cả, chất lƣợng và thái độ phục vụ để đạt đƣợc sự hài lòng của khách hàng là những yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến khả năng cạnh tranh của DN. Hiện nay, với xu hƣớng giảm cƣớc viễn thông liên tục, với nhu cầu đầu tƣ mở rộng vùng phủ sóng, nâng cấp thiết bị các DN đang phải chịu sức ép rất lớn trong môi trƣờng cạnh tranh khốc liệt. Với việc cạnh tranh giảm giá cƣớc nhƣ hiện nay, ngƣời tiêu dùng và xã hội đƣợc sử dụng giá dịch vụ ngày càng rẻ, chất lƣợng dịch vụ ngày càng tốt nhƣng trong đó cũng tiềm ẩn những thách thức cho các DN. DN nào đứng vững đƣợc sẽ tồn tại và phát triển mạnh mẽ nhƣng DN nào không đứng vững đƣợc sẽ phải rút khỏi thị trƣờng.
Để có thể cung cấp ra thị trƣờng các dịch vụ viễn thông với chất lƣợng tốt và giá cả cạnh tranh, các nhà quản trị các DN viễn thông cần phải thực hiện tốt các chức năng quản trị DN, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, động viên, khuyến khích đƣợc nhân viên hoạt động tích cực để đem lại nhiều nhất giá trị gia tăng cho khách hàng. Thực hiện tốt các chức năng quản trị, các nhà quản trị cần có sự trợ giúp đắc lực của các thông tin KTQT nói chung và thông tin KTQT chi phí và giá thành nói riêng. 2 Nghiên cứu sự phát triển của KTQT trên thế giới, để hỗ trợ cho quản trị DN, một số DN ở Mỹ đã thiết lập và sử dụng thông tin KTQT từ những năm cuối của thế kỷ XIX. Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các DN Nhật Bản đã phục hồi và phát triển mạnh mẽ nhờ có sự hỗ trợ tích cực từ hệ thống KTQT do các giáo sƣ của Đại học Kobe thiết lập [18].
Ở nƣớc ta, KTQT nói chung, KTQT chi phí và giá thành nói riêng vẫn là lĩnh vực chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. "Hệ thống kế toán hiện nay trong phần lớn các DN mới chỉ chú ý đến kế toán tài chính và kế toán thuế mà chƣa quan tâm đến KTQT. Thông tin do hệ thống kế toán cung cấp phục vụ cho các yêu cầu quản trị trong các DN còn khá mờ nhạt" [19]. Các DN viễn thông di động Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này.
Sự mờ nhạt của KTQT nói chung, KTQT chi phí và giá thành nói riêng đã ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả quản trị DN và hiệu quả kinh doanh của các DN viễn thông di động. Để nâng cao hiệu quả quản trị DN, giúp các DN Việt Nam có thể cạnh tranh với các DN nƣớc ngoài, các nhà quản trị cần phải đƣợc trang bị các kiến thức quản trị hiện đại ngang tầm quốc tế cùng với sự hỗ trợ hữu hiệu của hệ thống KTQT nói chung, kế toán chi phí và giá thành nói riêng. Xuất phát từ lý do này, luận án chọn "Công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành tại các DN viễn thông di động Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu. TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC 2. Các công trình nghiên cứu về KTQT và KTQT chi phí và giá thành Khái niệm KTQT xuất hiện ở Việt Nam trong những năm đầu thập kỷ 90 (thế kỷ XX) khi Việt Nam mở cửa đón nhận nguồn đầu tƣ nƣớc ngoài. Cũng bắt đầu từ thời gian này KTQT bắt đầu đƣợc nghiên cứu và giảng dạy trong các trƣờng đại học. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến KTQT trong thời gian từ năm 1995 trở lại đây nhƣ sau: - Luận án ―Vấn đề hoàn thiện kế toán Việt Nam” của tác giả Nguyễn Việt (năm 1995) là công trình đầu tiên nghiên cứu về KTQT ở Việt Nam.
Trong luận án của mình tác giả đã đề xuất đƣợc các phƣơng hƣớng và giải pháp để xây dựng hệ thống kế toán tài chính và KTQT trong các DN Việt Nam. Tuy nhiên, đây là nghiên cứu đầu tiên trong bối cảnh KTQT là lĩnh vực hoàn toàn mới khi nƣớc ta bất đầu 3 giai đoạn chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trƣờng nên những đề xuất của tác giả tập trung chủ yếu vào hoàn thiện nội dung phản ánh trên các tài khoản kế toán phục vụ cho kế toán tài chính, các đề xuất về KTQT chỉ trong công trình này của tác giả rất hạn chế. Nội dung đề xuất đƣợc tác giả trình bày trong 3 trang (từ trang 130 đến trang 132) bao gồm cả kế hoạch chiến lƣợc sản xuất kinh doanh, kế hoạch chiến lƣợc tiếp thị và một phần nhỏ liên quan đến việc sử dụng thông tin để chấp nhận đơn đặt hàng đặc biệt qua ví dụ của Công ty BACO. - Luận án tiến sĩ : “Phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng KTQT vào các DN Việt Nam” được tác giả Phạm Văn Dược nghiên cứu vào năm 1997.
Trong công trình này, tác giả đã có những nghiên cứu cụ thể và đề xuất các biện pháp ứng dụng KTQT vào thực tiễn trong các DN Việt Nam. Tuy nhiên, các đề xuất của tác giả mới chỉ tập trung vào các giải pháp phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn, chƣa phân tích đƣợc ảnh hƣởng của các chỉ tiêu đánh giá đến hành vi của nhà quản trị cũng nhƣ chƣa gắn với các DN hoạt động trong môi trƣờng kinh doanh cụ thể. Những nghiên cứu này còn mang tính chất chung cho tất cả các loại hình DN, trong khi tính linh hoạt của KTQT lại rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng ngành. - Luận án ―Tổ chức KTQT và giá thành trong DN sản xuất ở Việt Nam” - tác giả Trần Văn Dung(2002).
Trong luận án này tác giả đã phân tích hệ thống kế toán chi phí trong các DN thuộc các ngành sản xuất công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp và đề xuất các giải pháp hoàn thiện KTQT chi phí và giá thành trong các DN này. Mặc dù đề xuất ―xây dựng và hƣớng dẫn một số mô hình KTQT DN. Trƣớc hết là hƣớng dẫn chung, sau đó cụ thể cho từng ngành vì mỗi ngành đều có những đặc thù và yêu cầu quản lý riêng‖ [10, tr. Nhƣng do phạm vi nghiên cứu quá rộng nên những đề xuất của tác giả chủ yếu tập trung vào các DN nhà nƣớc và mang tính hƣớng dẫn, chƣa gắn với một ngành sản xuất cụ thể.
- Tác giả Lê Đức Toàn (năm 2002) với đề tài ―KTQT và phân tích chi phí sản xuất trong ngành sản xuất công nghiệp ở Việt Nam” đã nghiên cứu thực tạng KTQT và phân tích chi phí sản xuất của các DN sản xuất công nghiệp. Từ kết quả nghiên cứu của mình, tác giả Lê Đức Toàn đã đề xuất xây dựng mô hình KTQT và phân tích chi phí, hoàn thiện dự toán chi phí, v.v… Mặc dù luận án có đƣa ra một số giải pháp hoàn thiện KTQT chi phí nhƣ hoàn thiện phân loại chi 4 phí, xây dựng trung tâm chi phí, trung tâm trách nhiệm, v.v… nhƣng nội dung của luận án vẫn tập trung chủ yếu vào phân tích chi phí. Do phạm vi nghiên cứu của luận án quá rộng nên các giải pháp đề xuất chỉ mang tính định hƣớng, chƣa có các giải pháp cụ thể gắn với đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Sau các nghiên cứu trên, các nghiên cứu sau này đã tập trung phân tích đặc điểm kinh doanh và có các đề xuất gắn với đặc điểm hoạt động của ngành nghiên cứu.
Một số công trình nghiên cứu ứng dụng KTQT trong các ngành kinh doanh cụ thể nhƣ: - Luận án ―Tổ chức KTQT chi phí và kết quả kinh doanh ở các DN kinh doanh du lịch” của tác giả Phạm Thị Kim Vân (năm 2002). Trong luận án này, tác giả đã nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí trong các DN du lịch nhƣ Công ty khách sạn Hoa Lƣ (Ninh Bình), Khách sạn Vân Long và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện tổ chức KTQT chi phí trong các DN này. Tuy nhiên, do không gắn với các chức năng quản trị DN nên một số giải pháp đƣợc đề xuất chƣa thực sự đáp ứng nhu cầu của quản trị DN. Các giải pháp hoàn thiện thuộc về phân tích hoạt động kinh doanh.
Một số giải pháp đƣợc đề xuất chƣa phù hợp với mục đích của KTQT nhƣ giải pháp đề xuất về các phƣơng pháp tính giá thành sản phẩm theo phƣơng pháp hệ số, phƣơng pháp tỷ lệ (tr. 123-130); hoàn thiện KTQT doanh thu (tr. 132), KTQT kết quả kinh doanh (tr.v… - Luận án ―Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính và KTQT trong DN nhà nước về xây dựng” của tác giả Nguyễn Văn Bảo(2002) đã nghiên cứu thực trạng KTQT trong các DN xây dựng thuộc sở hữu nhà nƣớc thực hiện hạch toán theo quyết định 1864/1998/QĐ/BTC ngày 16 tháng 12 năm 1998 của Bộ Tài chính áp dụng cho các DN xây lắp. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính trong các DN xây dựng thuộc sở hữu nhà nƣớc.
Luận án của tác giả Nguyễn Văn Bảo còn một số hạn chế nhƣ: + Tác giả chỉ nghiên cứu về chế độ kế toán nhƣng vẫn đƣa ra đƣợc các giải pháp để hoàn thiện cơ chế tài chính trong các DN xây lắp.