Chương I: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Chương II: Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Máy May Triệu Sơn. Chương III: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Máy May Triệu Sơn. CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KE TOÁN CHI PHI SAN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SAN PHAM TRONG DOANH NGHIỆP SAN XUẤT 1.
Những vấn đề chung về sản xuất 1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh sản xuất có ảnh hướng đến công tác hạch toán kế toán. “Doanh nghiệp sản xuất là những doanh nghiệp sử dụng nguồn lực, tư liệu sản xuất kết hợp với ứng dụng khoa học công nghệ dé sản xuất ra sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường.” (Gia, 2023) “Quá trình sản xuất của một doanh nghiệp được hiểu là sự kết hợp giữa ba yếu tố cơ bản: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động dé nhằm mục đích có thé tao ra sản phẩm. Cụ thé: Sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chat va tinh than của con người được vận dụng vào quá trình sản xuất.
Đối tượng lao động là những yếu tô của tự nhiên mà lao động của con người tác động vào nhằm biến đổi nó cho phù hợp với mục đích của con người. Tư liệu lao động là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm thỏa mãn nhu cau con người.” (Sách giáo khoa Giáo dục công dân 11, 2017) Ngành sản xuất có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, quyết định sản xuất của doanh nghiệp dựa trên những vấn đề chính cụ thê như việc đưa ra các câu hỏi sau đây: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực để làm ra sản pham? Thứ hai, quy trình sản xuất được hiểu là một chuỗi các công việc được thực hiện theo thứ tự để tạo ra sản phẩm trên cơ sở kết hợp: NVL, nhân công, máy móc, năng lượng và các yêu tô khác. Thứ ba, chi phí sản xuất chính là các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, nhân công, khấu hao máy móc nhà xưởng, năng lượng, điều hành và phục vụ sản xuất. Thứ tư, chi phí sản xuất gồm: chi phí trực tiếp và gián tiếp (nếu phân theo quan hệ sản xuất), chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và sản xuất chung (nếu phân theo các khoản mục).
Thứ năm, “giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản xuất tạo ra lượng sản phẩm hoàn thành (thành phẩm) trong một thời gian nhất định”. (Trần, 2015) Quy trình quản lý doanh nghiệp sản xuất: Hoạt động quản lý trong doanh nghiệp có sự tham gia của tất cả các bộ phận (Ban Giám đốc nhà máy và các phòng ban, bộ phận trực thuộc), với các công việc tuần tự sau: Bước 1: Bộ phan sản xuất tiếp nhận “ké hoạch san xuất” từ bộ phận kinh doanh và xây dựng các “kế hoạch sản xuất” theo các công đoạn sản xuất. Bước 2: Dựa trên kế hoạch sản xuất, nguyên liệu tồn kho khả dụng sẽ tiến hành dự trù nguyên liệu phục vụ sản xuất. Bước 3: Kiểm tra và theo dõi thời gian dừng máy để dự trù vật tư sửa chữa, bảo dưỡng.
Bước 4: Lập các đề nghị mua vật tư, đề nghị xuất/ lĩnh vật tư chuyên bộ phận kỹ thuật kiểm tra và gửi về phòng mua hàng. Bước 5: Dựa trên kế hoạch và nguồn lực phù hợp tiễn hành lập các “lệnh sản xuất” chuyên tới các phân xưởng, công đoạn sản xuất trong nhà máy dé tiến hành quá trình sản xuất. Bước 6: Theo dõi tiễn độ, thống kê chỉ tiết theo các kế hoạch sản xuất. Bước 7: Phối kết hợp, kiểm tra và đánh giá chất lượng thành phâm hoàn thành.
Những đặc điểm nói trên phan nào chi phối công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất, dẫn đến sự khác biệt nhất định. Tuy nhiên, về cơ bản, việc hạch toán các phần hành kế toán vẫn tuân thủ theo các bước nêu trên. Những đặc điểm trên đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức công tác kế toán trên cơ sở tuân thủ chế độ kế toán nhưng cũng phải phù hợp với đặc thù hoạt động sản xuất để đảm bảo chất lượng công tác kế toán, đưa ra những thông tin kịp thời và chính xác cho quản lý. Nhiệm vụ kế toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
“Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết với doanh thu, kết quả (lãi, lỗ) hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy được chủ doanh nghiệp rất quan tâm.” (Kế toán chi phí sản xuất va giá thành sản phẩm, 2022) Việc tổ chức kế toán chi phí, giá thành sản phẩm một cách khoa học, hợp lý và chính xác có ý nghĩa hết sức quan đối với doanh nghiệp. Việc xem xét, kiểm tra chỉ phí phát sinh ở doanh nghiệp không chỉ giúp tăng cường quản lý tài sản, tiền vốn một cách có hiệu quả mà còn tạo điều kiện để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Đây là một trong những điều kiện quan trọng mang lại lợi thế cạnh tranh cho công ty. Mặt khác, “giá thành sản phẩm còn là cơ sở dé xác định giá bán sản phẩm, là cơ sở dé đánh giá hạch toán kinh tế nội bộ, phân tích chi phí, đồng thời còn là căn cứ dé xác định kết quả kinh doanh kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm”.
(Kế toán chỉ phí sản xuất và giá thành sản phẩm, 2022) “Kế toán doanh nghiệp cần xác định rõ vai trò và nhiệm vụ của mình trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phâm như sau: Trước hết cần nhận thức đúng dan vị trí vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong toàn bộ hệ thống kế toán doanh nghiệp, mối quan hệ với các bộ phận kế toán có liên quan, trong đó kế toán các yêu tố chi phí là tiền đề cho kế toán chi phí và tính giá thành. Thứ hai, căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất, đặc điểm của sản phẩm, khả năng hạch toán, yêu cầu quản lý cụ thé của doanh nghiệp dé lựa chọn, xác định đúng dan đối tượng kế toán chi phí 10 sản xuất, lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp. Thứ ba, căn cứ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, đặc điểm của sản phẩm, khả năng và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để xác định đối tượng tính giá thành cho phù hợp. Thứ tư, tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ ràng trách nhiệm của từng nhân viên, từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt bộ phận kế toán các yếu tố chi phí.
Thứ năm, thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, số kế toán phù hợp với các nguyên tắc chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng được yêu cầu của thu nhận — xử lý — hệ thống hóa thông tin về chi phí, giá thành của doanh nghiệp. Thứ sáu, tổ chức lập và phân tích các báo cáo về chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành giúp các nhà quản trị doanh nghiệp ra được các quyết định một cách nhanh chóng, phù hợp với quá trình sản xuất — tiêu thụ sản phẩm, đề xuất các biện pháp tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản pham. Những vấn đề chung về chỉ phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1. Chi phí sản xuất 1.
Khái niệm Nếu tiếp cận theo học thuyết giá trị, “chi phí sản xuất là toàn bộ các hao phí về lao động sông (hao phí về sức lao động của con người) và lao động vật hóa (hao phí về nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, tài sản có định,.) được biểu hiện bằng tiền bỏ ra để mua yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất hàng hóa nhằm mục đích thu lợi nhuận”. “Thực chất chi phí sản xuất kinh doanh là sự dịch chuyên của vốn, của các yếu tố sản xuất vào đối tượng giá thành.” (Anh, 2011) 11 Theo chuẩn mực kế toán số 02: Chi phí sản xuất được định nghĩa như sau: “Chi phí chế biến hàng tồn kho bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến sản pham sản xuất, như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung có định và chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh trong quá trình chuyên hóa nguyên vật liệu, thành pham” Theo VAS 01 và IAS 01 “Chuẩn mực chung”: “Chi phí là các yêu tố làm giảm các lợi ích kinh tế của doanh nghiệp trong kỳ, dưới hình thức các khoản tiền chỉ ra hoặc giảm tài sản hoặc làm phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu nhưng không bao gồm khoản phân phối cho các cô đông hoặc chủ sở hữu”. Các khái niệm trên có thể khác nhau về cách biểu đạt, hình thức thé hiện.nhưng tat cả đều thừa nhận rằng: “Chi phí sản xuất là một nguồn lực hy sinh hay mat đi và phải phát sinh gắn liền với mục đích sản xuất, kinh doanh. Hay ban chất chi phí là sự tiêu hao nguồn lực của đơn vị nhằm tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm và được bù đắp từ thu nhập sản xuất kinh doanh.” (Mai, 2016) Những chỉ phí sản xuất bỏ ra trong quá trình sản xuất nhưng chưa tạo ra sản phẩm hoàn thành gọi là chi phí sản xuất sản pham do dang.
Chi phí được xem là chỉ tiêu quan trọng dé đánh giá hiệu quả quan lý hoạt động doanh nghiệp. Nhận diện, phân tích các chi phí phát sinh là điều mau chốt dé có thé ghi nhận, đo lường chính xác về chi phí cũng như kiểm soát tốt chỉ phí, từ đó đưa ra những quyết định đúng đắn cho doanh nghiệp. Dé đáp ứng được các yêu cầu trên chi phí cần được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.