Mở đầu chiếm một tỷ lệ không đáng kể. Theo Đào Văn Khanh, Phạm Thị Ly và Nguyễn Văn Trường đại học, theo Rhodes (2001, trang 24) Tuấn (2012), Việt Nam tuy có khoảng 9.000 định nghĩa thì đó là "cộng đồng tranh luận giáo sư, phó giáo sư cùng với khoảng trên và phát kiến". Tương tự, jJaspers (1960) cho 24.300 tiến sĩ nhưng trong thời gian 10 năm rằng trường đại học là "cộng đồng các học (1996-2005), các nhà khoa học của nước ta giả và sinh viên dấn thân vào nghĩa vụ tìm chỉ công bố 3.456 công trình NCKH trên các kiếm chân lý". Với bản chất như vậy, trường tạp chí quốc tế.
Tại ĐHNH nói riêng, quy mô đại học là nơi đào tạo các nhà khoa học, xây hoạt động NCKH của giảng viên chưa cao, dựng tiềm năng sáng tạo khoa học và sản thể hiện ở số lượng đề tài, sách, bài báo khoa sinh tri thức mới cho xã hội loài người; là nơi học còn khiêm tốn, số lượng công trình công lưu giữ và truyền tải những giá tri tinh than bố quốc tế chỉ đếm trên đầu ngón tay. Một số vượt không gian và thời gian của nhân loại. nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý giáo dục Nói cách khác, dòng chảy chính yếu trong các đã chỉ ra rằng nguyên nhân của thực trạng hoạt động của trường đại học chính là các này là năng lực NCKH của giảng viên còn hoạt động học thuật, NOKH. Do đó, nâng cao năng lực NCKH của giảng viên của trường đại học là vấn dé Tuy nhiên, kết quả khảo sát tại một số trường rất bức thiết, cân có giải pháp cụ thể và hiệu đại học ở TP.HCM của một số tác giả (Hoàng quả.
HTQT về NCKH là một trong các giải Thị Nhị Hà, 2006; Tường Han, 2015) da phan pháp quan trọng hàng đầu bởi vì nó mang ánh một thực trạng là số cán bộ dạy vượt lại cơ hội chia sẻ và cập nhật tri thức cho giờ chuẩn khá nhiều, có những giảng viên các nhà khoa học trong trường đại học, trau dạy vượt gấp đôi số giờ chuẩn quy định là đổi kỹ năng nghiên cứu và tăng cường nội 280 giờ, trong khi số giờ đành cho NCKEH lại lực khoa học chuyên ngành cho nhà trường. congnghe ngan hang Py Số 113¢ Thang 8/2015 Mặt khác, hoạt động trao đổi học giả - nhà viên và trong chừng mực nhất định là sinh nghiên cứu, giao lưu và hợp tác nghiên cứu có viên. Các hình thức tổ chức nghiên cứu theo thể giúp tăng cường nhận thức của các nhà cá nhân, theo nhóm, nhóm thuộc khoa, bộ quản lý đại học và giảng viên, tạo ra nhu cầu môn, trung tâm, viện. Ba yếu tố trọng yếu để và điều kiện cho những cải cách để nâng cao thực hiện nhiệm vụ NCKH của trường đại học năng lực NCKH của trường đại học.
là đội ngũ nghiên cứu viên, giảng viên; môi trường khoa học và hiện thực. Cơ sở lý thuyết về hợp tác quốc tế trong hoạt động nghiên cứu khoa học Nghiên cứu viên, giảng viên là chủ thể nghiên cứu, còn hiện thực là những hiện Có nhiều định nghĩa khác nhau về NCKH. tượng hoặc sự kiện đặt ra những vấn để Redman va Mory (1923) (trich theo Kothari bức xúc cần được giải quyết về lý luận cũng (2004)) cho rằng nghiên cứu là "những nỗ lực như thực tiễn. Môi trường khoa học là điều được hệ thống hóa để thu được tri thức mới".
kiện để hiện thực hóa năng lực nghiên cứu Trong khi đó, Slesinger và Stephenson (1930) của giảng viên, nhà nghiên cứu, bao gồm (cũng trích theo Kothari (2004)) nhận định các quy định pháp lý về NCKH, hạ tầng nghiên cứu là "việc thao tác trên sự vật, khái cho NCKH, môi trường làm việc của trường niệm hoặc biểu tượng vì mục đích tổng quát đại học. Hạ tầng cho NCKH của trường đại hóa để mở rộng, điều chỉnh hoặc xác thực tri học là hệ thống các nguồn lực cần thiết thức, cho dù tri thức đó hỗ trợ việc xây dựng cho thực hiện nghiên cứu của cộng đồng lý thuyết hay việc thực hành chuyên môn". Nó bao gồm các cấu phần: (¡) Thể Vũ Cao Đàm (2009) định nghĩa "NCKH là chế (các bộ môn, phòng thí nghiệm, phòng, sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa ban); (11) Nghiên cứu (trường phái khoa học biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát - sư phạm); (ii) Thông tin (công nghệ thông triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là tin, khả năng tiếp cận thông tin khoa học sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ cần thiết); (iv) Thẩm định (hội đông khoa thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho học và đào tạo, hội đồng chấm luận án, mục tiêu hoạt động của con người". Như vậy kết bằng các phương pháp khoa học nhằm phục quả thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đại vụ cho mục tiêu hoạt động của con người.
Đó học phụ thuộc vào năng lực nghiên cứu của là việc tìm kiếm thông tin một cách khoa nó gồm năng lực nghiên cứu của đội ngũ và học, có tính hệ thống về một vấn để nào đó; năng lực nghiên cứu của cơ sở đại học. là chuỗi các thao tác liên quan đến: xác định vấn đề, thiết lập các giả thuyết và mô hình Theo Trần Thanh Ái (2014) năng lực NCKH nghiên cứu, tìm kiếm và phân tích dữ liệu, của cá nhân bao gồm ba thành tố chủ yếu diễn giải kết quả phân tích dữ liệu, đánh giá sau: kiến thức, kỹ năng, thái độ và phẩm mức độ phù hợp giữa dữ liệu với mô hình chất. Kiến thức gồm kiến thức chuyên ngành nghiên cứu, hoặc khái quát hóa thành mô và kiến thức phương pháp NCKH; kỹ năng hình lý thuyết, rút ra kết luận nghiên cứu, gồm các kỹ năng xây dựng để tài nghiên cứu, viết bài báo khoa học. thiết kế nghiên cứu, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu và sử dụng công cụ phân tích, NCKH trong trường đại học bao trùm các lĩnh phê phán, lập luận, viết bài báo khoa học.
vực chuyên ngành theo mục tiêu, nhiệm vụ, Tóm lại, năng lực nghiên cứu là toàn bộ kiến nội dung hoạt động khoa học công nghệ của thức về phương pháp luận, các phương pháp nó. Người nghiên cứu trong trường đại học và kỹ năng, kỹ thuật nghiên cứu, tư duy, thế là các giảng viên, nghiên cứu viên, cộng tác giới quan, bức tranh thế giới của nhà nghiên H congnghe ngan hang Số 113 Tháng 8/2015 cứu. Nói một cách khái quát, năng lực nghiên lý, đánh giá NCKH và môi trường NCKH tiên cứu là năng lực xác định tiểm lực sáng tạo tiến cho mình. Bên cạnh đó, các trường đại của cá nhân, các khả năng của cá nhân trong học ở các quốc gia có trình độ phát triển thấp nhận thức một cách tổng thể và phê phán có cơ hội thu hẹp trình độ phát triển khoa hiện thực biến động, hành động một cách học so với các trường đại học ở các quốc gia hiệu quả trong hoàn cảnh vô định, tìm tòi có trình độ phát triển cao, thực hiện đi tắt, những phương tiện và cách thức hoạt động đón đầu trong NCKH, tiết kiệm được chi phí không theo chuẩn định và/hoặc mang tính đầu tư cho nghiên cứu.
Trong khi đó, HTQT sáng tạo. Năng lực nghiên cứu của một cơ sở về NCKH mang lại cơ hội cho các nhà khoa đại học bao gồm chiến lược nghiên cứu; đội học tại các nước phát triển kiểm nghiệm các ngũ và năng lực nghiên cứu của đội ngũ; môi thành tựu nghiên cứu tại các quốc gia đang trường nghiên cứu; văn hóa nghiên cứu; đầu phát triển thông qua các dự án nghiên cứu tư cho nghiên cứu; hệ thống tổ chức, quản lý, quốc tế để tăng cường tính khái quát hóa cho đánh giá hoạt động NCKH. các phát kiến mới, góp phần thúc đẩy việc phát triển các lý thuyết khoa học mới. Đối HTQT về NCKH là một quá trình con người với các nhà khoa học, HTQT về NCKH mang có chủ định làm việc với những người khác đến các cơ hội tiếp cận với nguồn tài chính và nhận được lợi ích cùng nhau trong trao đổi quốc tế tài trợ cho các dự án nghiên cứu của khoa học thông qua chia sẻ kiến thức, kinh họ.
Đối với các nhà quản lý trường đại học, nghiệm, thiết bị, thông tin và nhân lực có HTQT về NCKH giúp họ tiếp cận với năng trình độ (Salto, 2009). "Con người" ở đây là lực quản lý ở trình độ tiên tiến của các đại những cá nhân, tổ chức ở các quốc gia khác học đẳng cấp quốc tế. Đối với một trường đại học đang phát triển, mục tiêu chính của HTQT về NCKH Về hình thức, hoạt động HTQT về NCKH là nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng thường được tổ chức đa dạng với nhiều hình viên, nghiên cứu viên và chính cả với cơ sở thức: trao đổi chia sẻ thông tin, kinh nghiệm đại học. Thông qua các nhóm nghiên cứu, các về vấn để nghiên cứu, hoạt động cộng tác mối quan hệ đối tác, các hội thảo khoa học nghiên cứu chung qua các vấn đề nghiên cứu, song phương hoặc đa phương.
các nhà khoa qua các seminar, workshop, conference, cộng học từ các quốc gia khác nhau làm việc với tác viên khoa học. Hoạt động HTQT về NCKH nhau trong các lĩnh vực nghiên cứu mà họ của các đại học là cần thiết bởi vì trường đại cùng quan tâm, cùng làm thí nghiệm, xuất học không chỉ là cơ sở đào tạo mà còn là cơ sở bản các báo cáo khoa học trên các tạp chí NCKEH, chuyển giao công nghệ, sản xuất tri chuyên ngành, cùng giám sát các nghiên thức và góp phần phát triển bên vững (Tran cứu của học viên bậc sau đại học hoặc các Khánh Đức, 2010). nghiên cứu bậc sau tiến sĩ. Thông qua hoạt động HTQT về NCKH, các nhà khoa học trẻ Thành tựu và hạn chế trong hợp tác quốc trưởng thành về năng lực nghiên cứu, nuôi tế về nghiên cứu khoa học tại Trường dưỡng đam mê khoa học và duy trì sự nghiệp Đại học Ngân hàng TP.HCM khoa học của họ.
Trong thời gian vừa qua, HTQT về NCKH tại HTQT về NCKH giúp các trường đại học ở các ĐHNH đã đạt được một số thành tựu: quốc gia có trình độ phát triển thấp tiếp cận với môi trường khoa học, những thành tựu Thứ nhất, hoạt động nghiên cứu và xuất bản khoa học tiên tiến của các trường đại học tại khoa học trong nước trở thành cơ sở ngày các nước có trình độ phát triển cao và nhờ đó càng vững chắc cho HTQT về NCKH.