Luận văn thạc sĩ về công lý trong tư tưởng triết học của John Rawls

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh vấn đề công lý trong tư tưởng triết học của john rawls 001, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

90
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa của luận văn

0.7. Kết cấu của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG QUAN NIỆM TIÊU BIỂU VỀ CÔNG LÝ VÀ CÁCH TIẾP CẬN CỦA J.RAWLS ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CÔNG LÝ

1.1. Những quan niệm về công lý trong lịch sử triết học

1.1.1. Ý niệm về công lý và công bằng như là ý niệm trung tâm trong các học thuyết chính trị và đạo đức

2. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về công lý trong triết học John Rawls

Công lý là một trong những khái niệm trung tâm trong triết học chính trị của John Rawls. Ông đã đưa ra những quan điểm mới mẻ về công lý, đặc biệt là trong tác phẩm nổi tiếng 'Một lý thuyết về công lý'. Rawls định nghĩa công lý không chỉ là sự công bằng trong phân phối mà còn là sự công bằng trong cơ hội và quyền lợi. Ông nhấn mạnh rằng một xã hội công bằng phải đảm bảo rằng mọi cá nhân đều có cơ hội bình đẳng để phát triển và thụ hưởng phúc lợi.

1.1. Khái niệm công lý và công bằng trong triết học

Công lý và công bằng là hai khái niệm có liên quan mật thiết trong triết học. Công lý thường được hiểu là sự đúng đắn trong hành động và quyết định, trong khi công bằng liên quan đến sự phân phối công bằng các nguồn lực và cơ hội. Rawls đã chỉ ra rằng công lý không chỉ đơn thuần là sự phân phối mà còn phải đảm bảo rằng mọi người đều có cơ hội bình đẳng để tham gia vào xã hội.

1.2. Vai trò của công lý trong xã hội hiện đại

Công lý đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội công bằng và ổn định. Rawls cho rằng một xã hội chỉ có thể phát triển bền vững khi các nguyên tắc công lý được thực thi. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu bất bình đẳng mà còn tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của tất cả các cá nhân.

II. Những thách thức trong việc thực hiện công lý theo John Rawls

Mặc dù lý thuyết của Rawls về công lý đã được chấp nhận rộng rãi, nhưng việc thực hiện các nguyên tắc này trong thực tế vẫn gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự bất bình đẳng trong xã hội, nơi mà không phải ai cũng có cơ hội bình đẳng. Ngoài ra, sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo và quan điểm chính trị cũng tạo ra những rào cản trong việc đạt được sự đồng thuận về công lý.

2.1. Bất bình đẳng trong phân phối tài nguyên

Bất bình đẳng trong phân phối tài nguyên là một trong những thách thức lớn nhất đối với công lý. Rawls cho rằng một xã hội công bằng phải đảm bảo rằng tài nguyên được phân phối một cách công bằng, nhưng thực tế cho thấy rằng nhiều người vẫn phải sống trong nghèo đói trong khi một số ít người lại sở hữu khối tài sản khổng lồ.

2.2. Sự khác biệt văn hóa và tôn giáo

Sự khác biệt về văn hóa và tôn giáo có thể tạo ra những rào cản trong việc thực hiện công lý. Rawls nhấn mạnh rằng một xã hội công bằng phải tôn trọng sự đa dạng, nhưng thực tế cho thấy rằng nhiều nhóm thiểu số vẫn bị phân biệt và không được đối xử công bằng.

III. Phương pháp tiếp cận công lý của John Rawls

John Rawls đã phát triển một phương pháp tiếp cận độc đáo để giải quyết vấn đề công lý, được gọi là 'bức màn vô minh'. Phương pháp này yêu cầu các cá nhân phải đưa ra quyết định về các nguyên tắc công lý mà không biết vị trí xã hội của mình. Điều này giúp đảm bảo rằng các nguyên tắc được đưa ra là công bằng và không thiên vị.

3.1. Khái niệm bức màn vô minh

Khái niệm 'bức màn vô minh' là một trong những đóng góp quan trọng của Rawls. Nó yêu cầu các cá nhân phải đưa ra quyết định về công lý mà không biết mình sẽ ở vị trí nào trong xã hội. Điều này giúp đảm bảo rằng các nguyên tắc công lý được đưa ra là công bằng và không thiên vị.

3.2. Nguyên tắc công bằng trong cơ hội

Rawls nhấn mạnh rằng công bằng trong cơ hội là một phần quan trọng của công lý. Mọi cá nhân đều phải có cơ hội bình đẳng để phát triển và thụ hưởng phúc lợi. Điều này có nghĩa là các chính sách xã hội phải được thiết kế để đảm bảo rằng không ai bị bỏ lại phía sau.

IV. Ứng dụng thực tiễn của lý thuyết công lý của Rawls

Lý thuyết công lý của Rawls đã có nhiều ứng dụng thực tiễn trong việc xây dựng chính sách xã hội. Nhiều quốc gia đã áp dụng các nguyên tắc công lý của Rawls để thiết kế các chương trình phúc lợi xã hội, nhằm giảm thiểu bất bình đẳng và đảm bảo cơ hội cho tất cả mọi người.

4.1. Chính sách phúc lợi xã hội

Nhiều quốc gia đã áp dụng lý thuyết của Rawls để xây dựng các chính sách phúc lợi xã hội. Những chính sách này nhằm đảm bảo rằng mọi người đều có cơ hội tiếp cận các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế và việc làm.

4.2. Các chương trình giảm nghèo

Các chương trình giảm nghèo cũng được thiết kế dựa trên nguyên tắc công lý của Rawls. Những chương trình này nhằm mục đích giúp đỡ những người nghèo nhất trong xã hội, đảm bảo rằng họ có cơ hội để thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nghèo đói.

V. Kết luận và tương lai của công lý trong triết học

Công lý trong triết học của John Rawls đã mở ra một hướng đi mới cho việc nghiên cứu và thực hiện công lý trong xã hội. Mặc dù còn nhiều thách thức, nhưng những nguyên tắc mà Rawls đề xuất vẫn có giá trị và có thể được áp dụng để xây dựng một xã hội công bằng hơn trong tương lai.

5.1. Tương lai của công lý trong xã hội

Tương lai của công lý trong xã hội phụ thuộc vào khả năng thực hiện các nguyên tắc mà Rawls đã đề xuất. Các nhà hoạch định chính sách cần phải nỗ lực để đảm bảo rằng công lý không chỉ là lý thuyết mà còn là thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày.

5.2. Vai trò của triết học trong việc xây dựng công lý

Triết học vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng công lý. Các nhà triết học cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các lý thuyết công lý mới, nhằm đáp ứng những thách thức của xã hội hiện đại.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh vấn đề công lý trong tư tưởng triết học của john rawls 001

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, quyển I, ông khẳng định rằng: “một cộng đồng được thiết lập nhằm đạt tới một cái tốt nào đó; vì hoạt động của con người luôn luôn nhằm đạt tới cái mà nó nghĩ là tốt. Nhưng, nếu tất cả các cộng đồng đều nhắm đến một cái tốt, thì nhà nước hay cộng đồng chính trị - cộng đồng cao nhất và bao trùm tất cả các cộng đồng - phải nhắm tới cái tốt cao cả hơn mọi cái tốt khác, và phải là cái tốt ở mức độ cao nhất” [1,42]. Toàn bộ ý tưởng của Aristoles về công lý gắn liền với cách mà ông quan niệm về một cộng đồng chính trị tốt đẹp – cộng đồng sẽ đảm bảo đời sống tốt đẹp với nhiều phẩm hạnh đạo đức được tôn vinh cho các thành viên sống trong đó. Chính vì thế, công lý là một phẩm chất đạo đức tốt đẹp của một cộng đồng chính trị.

Trong một xã hội, dưới một chế độ chính trị nhất định, công lý luôn bao hàm hai nhiệm vụ: thứ nhất, nó giải thích mục đích hoạt động của toàn bộ cộng đồng chính trị. Cộng đồng chính trị này ra đời để làm gì? Nó ra đời để đảm bảo cho một xã hội công bằng, đảm bảo điều gì là tốt đẹp và nên làm cho một xã hội. Ở mặt này, công lý có tính mục đích luận. Thứ hai, công lý là tiêu chuẩn để xem xét những giá trị còn lại được xã hội tôn vinh.

Điều này có nghĩa, khi công lý đã trở thành phẩm chất của cộng 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng chính trị đó, thì nó sẽ trở thành giá trị chính yếu, như là một quy chuẩn để căn cứ vào đó người ta xem xét các giá trị còn lại trong cộng đồng. Xem xét xem liệu giá trị nào đáng được suy tôn còn giá trị nào thì không; xem xét xem ai, nhóm nào xứng đáng được nhận cái gì. Và mục đích tối thượng của công lý khi thực thi nhiệm vụ với tư cách là một phẩm chất đạo đức của cộng đồng chính trị đó là phải làm sao đảm bảo được một đời sống thực sự tốt đẹp. Do đó, nếu như muốn xem xét sự khác biệt giữa các chế độ xã hội, thì phải xem xét cách họ quan niệm khác nhau về công bằng như thế nào.

Trong chương 9 của quyển III, khi bàn đến sự khác biệt giữa hai chế độ là chế quả đầu và chế độ dân chủ [1, 170-174], Aristoles đã chỉ ra một lưu ý quan trọng khi nghiên cứu về công lý với tư cách là giá trị có tính mục đích của cộng đồng chính trị - “đó là, khi áp dụng những nguyên tắc bình đẳng, họ vừa là đối tượng vừa là người phán xét. Và người ta, khi dính dáng đến [quyền lợi của] chính mình, đều không thể nào phán xét cho công minh được. Trong khái niệm về sự công bằng chứa đựng một mối quan hệ đến con người cũng như vật chất, và một sự phân phối công bằng” [1,170-171]. Ông đưa ra ví dụ, rằng “[cả quả đầu lẫn dân chủ đều cho rằng] công bằng là bình đẳng về phương diện tham gia chính quyền, nhưng [theo những người dân chủ], đó là sự bình đẳng cho tất cả mọi người.

Còn trong chế độ quả đầu, sự bất bình đẳng [về phương diện tham gia chính quyền], lại được xem là công bằng, nhưng đó là công bằng giữa những người không đồng đẳng” [1, 170]. Điều đó có nghĩa, công bằng và sự phân phối công bằng theo cách đúng đắn – công lý là tùy thuộc hoàn toàn vào mục tiêu của một xã hội, tùy thuộc vào những giá trị nào được tôn vinh và tán thưởng trong cộng đồng. Ở góc độ này có thể nhận thấy Aristoles tiếp cận công lý ở khía cạnh đạo đức. Hay nói một cách khác, thì phạm trù công lý chính là một phạm trù có tính lịch sử.

Điều đó cũng hàm nghĩa một điều là: khó để đạt tới một công lý có tính tuyệt đối, có 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giá trị chung cho mọi xã hội vào những thời điểm lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, bên cạnh đó, có thể thấy một ý quan trọng khác của Aristoles trong tác phẩm “Đạo đức học của Nichomachus” khi ông nói về tính nguyên tắc trong phân phối công bằng, bình đẳng là “những bình đẳng nên được đối đãi (chia) một cách đồng đều, còn những bất bình đẳng thì nên được đối xử một cách không đồng đều” [trích theo 47]. Như vậy, dù không thể có một công lý chung cho tất cả các xã hội, song luôn có nguyên tắc chung để phân chia, phán xét một cách công bằng nhất. Đó chính là cái logic, là mô thức chung trong việc thiết lập nguyên tắc mà không làm mất đi tính sinh động của lịch sử.

Vấn đề còn lại nằm ở chỗ làm sao có thể xác định được mục tiêu chung của xã hội, bởi điều đó cơ hồ làm giảm đi quyền tự do cá nhân, hay thậm chí tước đi quyền tự do lựa chọn của cá nhân. Làm sao để thống nhất được sự lựa chọn hết sức đa dạng của các thành viên trong xã hội để rồi từ đó thống nhất cho được mục tiêu chung của xã hội ấy? Aristoles trả lời cho vấn đề ấy khi bàn về mục đích của chính trị. “Mục đích của chính trị không phải để thiết lập một khuôn khổ các quyền trung lập với các mục tiêu. Chính trị phải góp phần hình thành nên công dân tử tế và thúc đẩy các đức tính tốt.

Vì “tất cả các cộng đồng đều nhằm đến một cái gì tốt” [1, 42] nên mục đích của chính trị chính là giúp cho các thành viên trong xã hội học cách sống tốt cuộc đời, là để phát triển khả năng và giá trị đặc biệt của con người [xem 1,164-166]. Từ đây chúng ta xem xét toàn bộ logic trong lập luận của Aristoles về công lý như sau: mục tiêu của cộng đồng chính trị là đảm bảo một cuộc sống tốt đẹp cho người dân, sống trong những cộng đồng tốt, những công dân có quyền phát huy những giá trị của bản thân mình. Một xã hội tốt đẹp như thế 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sẽ xem xét công lý như là mục tiêu, là giá trị quan trọng nhất để đảm bảo phân phối công bằng cho tất cả những ai xứng đáng với những gì họ đóng góp cho xã hội và công lý là giá trị quy chuẩn để đánh giá những giá trị khác được tôn vinh trong xã hội. Và điều sâu sa hơn cả làm nền tảng cho toàn bộ logic trên đó là khi Aristoles bàn về bản chất chính trị - xã hội của con người.

Trong quyển I của tác phẩm Chính trị luận [xem 1, tr.42-82], khi bàn về các hoạt động chính trị, Aristoles khẳng định chỉ khi nào con người sống trong thành bang và hoạt động chính trị thì mới có thế hoàn thành bản chất con người của mình. Chỉ có trong các cộng đồng chính trị như thế chúng ta mới có khả năng vận dụng những giá trị vốn có của bản thân, mới có thể bàn bạc về công lý, về bất công hay những gì được cho là tốt đẹp của cuộc sống. Nếu không sống trong các cộng đồng ấy, những gì chúng ta nói đến công lý chẳng khác nào những điều phù phiếm. Năng lực phát triển đạo đức như là năng lực tự thân của con người.

“Con người, khi toàn hảo, là động vật tốt đẹp nhất, nhưng nếu hắn bị cách ly khỏi luật pháp và công chính, thì lại trở thành một động vật xấu xa nhất. Bất công trở nên tệ hại hơn khi đó là sự bất công được vũ trang, vì con người sinh ra có được đôi tay [cũng như ngôn ngữ] để làm cho con người tốt hơn về đạo đức, nhưng đôi tay cũng có thể được dùng để làm những chuyện xấu xa. Đó là lý do tại sao nếu con người không có được đức hạnh hắn sẽ trở thành dã man nhất, đê tiện nhất, chỉ biết chiều theo nhục dục. Sự công chính [chính là sự cứu rỗi của con người] thuộc về nhà nước, vì công chính - sự phân biệt thế nào là công bằng, là lẽ phải – là trật tự của một xã hội chính trị” [1, 48-49].

Những phân tích mang tính khái quát về các vấn đề của chính trị của Aristoles gợi mở một khuynh hướng tiếp cận công lý – cách tiếp cận từ góc độ đạo đức – trong đó chỉ rõ chủ đề của công lý chính là vấn đề thưởng phạt – 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ai xứng đáng với cái gì. Trong suốt một thời kỳ dài của lịch sử đây là chủ đề có tính chất vạch đường đi cho những nghiên cứu hay quan niệm về công lý. Quan điểm của Chủ nghĩa vị lợi về công lý Chủ nghĩa vị lợi dựa trên nguyên tắc: hạnh phúc cực đại để triển khai toàn bộ logic tư tưởng của mình. Cách tiếp cận chủ yếu của chủ nghĩa vị lợi đó là: công lý hay điều đúng nên làm nghĩa là tăng tối đa tiện ích hay phúc lợi, mang lại hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất.

Hai đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa vị lợi là Jeremy Bentham và John Stuart Mill. Jeremy Bentham – người được xem là cha đẻ của thuyết vị lợi, cho rằng “bằng tên gọi nguyên lý hữu ích, được chúng tôi mượn của David Hume.chúng tôi đề xuất nguyên lý lợi ích lớn nhất như là tiêu chí của cái tốt và cái xấu trên bình diện đạo đức nói chung và trên bình diện cai trị nói riêng” [trích theo 37, 69]. Như vậy theo Bentham nguyên tắc cao nhất là tối đa hóa hạnh phúc, trong sự cân bằng tổng thể giữa hạnh phúc và khổ đau. Do đó, công lý hay những việc gì đúng và nên làm theo đó là tối đa hóa sự hữu ích.

Những việc đó có nội hàm tương tự như những việc gì có thể tạo ra hanh phúc hay ngăn cản những điều khổ đau. Nguyên tắc của Bentham xuất phát từ quan điểm cho rằng cộng đồng là một cơ thể hư cấu, là tổng thể các thành viên, cho nên, giả sử chúng ta cộng tất cả lợi ích thu được từ những chính sách được ban hành trong cộng đồng và sau đó, trừ đi tất cả những phí tổn của nó, thì có thể biết được chính sách ấy tạo ra hạnh phúc nhiều hơn hay đau khổ nhiều hơn. Chính với cách làm này, chúng ta sẽ lựa chọn ra được những chính sách mang lại phúc lợi tối đa nhất cho toàn thể xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Công lý trong triết học John Rawls: Nghiên cứu và phân tích" mang đến cái nhìn sâu sắc về lý thuyết công lý của John Rawls, một trong những triết gia nổi bật của thế kỷ 20. Tác phẩm này không chỉ phân tích các khái niệm cơ bản như "vị trí nguyên thủy" và "nguyên tắc công lý", mà còn khám phá cách mà những ý tưởng này có thể áp dụng vào thực tiễn xã hội hiện đại. Độc giả sẽ được lợi từ việc hiểu rõ hơn về cách mà công lý có thể được định nghĩa và thực hiện trong các bối cảnh khác nhau, từ đó nâng cao nhận thức về các vấn đề xã hội và chính trị.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh vấn đề công lý trong tư tưởng triết học của john rawls 002. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu hơn về các khía cạnh lý thuyết và thực tiễn của công lý trong triết học Rawls, giúp bạn có thêm thông tin và góc nhìn đa dạng về vấn đề này.