CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CAMPUCHIA 1.1 TỰ NHIÊN Campuchia là đất nước ở trung tâm vùng Đông Nam Á, nằm trong tọa độ từ 10o đến 15o vĩ tuyến Bắc và từ 102o đến 108o kinh tuyến Đông, từ Đông sang Tây dài 560 km, từ Bắc xuống Nam dài 440 km. Vương quốc Campuchia có tổng số chiều dài biên giới chung trên 2500 km, tiếp giáp với Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam ở phiá Đông, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào ở phiá Đông Bắc và Vương quốc Thái Lan ở phiá Tây, phiá Nam thông ra vịnh Thái Lan bằng một bờ biển dài 443 km. Hình dáng đất nước Campuchia giống lưỡi rìu hình tứ giác cạnh không đều. Địa hình chủ yếu là đồng bằng do quá trình bồi lấp bởi phù sa, tạo nên các đồng bằng thấp và rộng lớn.
Các dạng địa hình ở Campuchia bao gồm: miền đồi núi phiá Tây Nam chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam; dãy núi Đăng Rếch ở phiá Bắc chạy từ Tây sang Đông; vùng cao nguyên phiá Bắc, Đông Bắc và Đông Nam; vùng đồng bằng trung tâm rộng lớn; vùng ven bờ vịnh Thái Lan. Campuchia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với nhiệt độ trung bình hàng năm ở vùng đồng bằng là 27oC, còn mức chênh lệch giữa các địa phương không đáng kể, nhiệt độ thấp nhất khoảng 16oC. Một năm ở Campuchia có hai mùa mưa và khô rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11.
Do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam từ Ấn Độ Dương vào mang theo nhiều mưa với lượng mưa trung bình là 1. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Với khí hậu nóng ẩm, Campuchia có nhiều điều kiện thuận lợi cho lớp phủ thực vật phát triển mạnh. Tuy nhiên, hạn hán và lũ lụt xảy ra thường xuyên đã gây ảnh hưởng rất lớn tới nông nghiệp và đời sống của nhân dân Campuchia.
12 Sông nước là nét nổi bật về mặt địa lý ở Campuchia. Sông ngòi và các hồ nước ở Campuchia chiếm khoảng 21.724 km2, bằng 12% tổng diện tích đất đai toàn quốc [27:120], trong đó quan trọng nhất là hai con sông Mekong và Tonle Sap. Ngoài hai hệ thống sông trên, các sông ở vùng duyên hải Campuchia tuy ngắn, nhỏ nhưng nhiều nước và có nhiều thác ghềnh nên tạo nguồn lực đáng kể cho ngành công nghiệp điện lực. Khi nói tới sông ở Campuchia không thể không nói tới hồ, đặc biệt là Biển Hồ.
Đây thực chất là một khúc uốn của sông Tonle Sap. Biển Hồ là hồ nước ngọt giàu cá nhất thế giới, trung bình 1 km2 có thể đánh bắt được 10-15 tấn cá, có nơi tới 29 tấn cá trong năm [27:121]. Sông ngòi đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của người dân Campuchia, cung cấp nước ngọt, nguồn tôm cá phong phú, nguồn thủy lực dồi dào, nguồn phù sa màu mỡ cho đồng ruộng, và còn là con đường giao thông thuận lợi, quan trọng. Ngoài ra, ở Campuchia còn có nguồn tài nguyên biển, đất đai và động thực vật rất phong phú, đa dạng.2 TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ Phnom Penh là thủ đô của Campuchia, được xây dựng vào năm 1434, nằm bên bờ sông Tonle Sap và sông Tongle Bassac.
Ngoài thủ đô Phnom Penh còn có bốn thành phố trực thuộc trung ương là SihanoukVille, Kep, Pailin, Kiriron. Vương quốc Campuchia được chia thành 20 tỉnh (Khệt). Các Khệt được chia thành các Xrok (huyện). Các Xrok lại được chia thành các Khum (xã).
Dưới Khum là các Sóc. Dân số của Campuchia tính đến tháng 7/2006 khoảng 13,9 triệu người [71]. Mật độ trung bình khoảng 59,1 người/km2. Dân cư sống đông đúc nhất ở thung lũng sông Mekong, vùng ngoại vi Phnom Penh, cũng như ở bên hồ Tonle Sap và miền hạ lưu ven biển.
Tại bốn tỉnh miền Đông Nam chỉ chiếm 8% diện tích cả nước nhưng có tới 2/5 dân cư sinh sống, trong khi ở phiá Bắc và Tây Campuchia dân cư rất thưa thớt. 13 Campuchia là một quốc gia đa dân tộc. Người Campuchia hiện đại ngày nay là kết tinh của bao thế kỷ pha trộn văn hóa và chủng tộc phức tạp. “Vào khoảng 2000 năm trước Công nguyên, người Khmer từ hướng Tây Bắc đã chuyển dịch xuống vùng Campuchia hiện nay, đẩy lùi dần các cư dân đã có mặt trước tại đó và chiếm lĩnh vùng đồng bằng châu thổ.
Vào đầu Công nguyên, người Khmer tiếp xúc trực tiếp với các cư dân bản địa thuộc giòng Indonesia và đẩy họ lùi dần lên vùng núi cao” [44: 29]. Từ thế kỷ III trước Công nguyên, văn hóa Ấn Độ bắt đầu xâm nhập vào Campuchia. Quá trình tiếp xúc văn hóa đi kèm theo quá trình pha trộn chủng tộc và hình thành nên dân tộc Campuchia hiện nay gồm ba nhóm: người Khmer, người Khmer đồng hoá, người Khmer Thượng. - Người Khmer (tên tự gọi là Khơmaie), còn được gọi là người Khmer Kadal (Khmer Giữa) là dân tộc đa số, chiếm 90% [27:125] dân số cả nước.
Họ sống chủ yếu ở vùng đồng bằng và làm nghề nông, một số ít sống ở thành thị làm nghề buôn bán nhỏ, tiểu thủ công, làm thuê hoặc làm công nhân viên chức. - Người Khmer đồng hoá gồm những dân tộc ở những nước khác đến sinh cơ lập nghiệp ở Campuchia từ lâu đời và ngày nay trở thành người Khmer như người Mãlai, người Lào, người Miến Điện, người Thái Lan… Những người này sống rải rác ở khắp nơi và làm nhiều nghề khác nhau như nghề rừng, đánh cá, buôn bán vải, chăn nuôi, trồng trọt… - Người Khmer Thượng còn được gọi là Khmer Lự, là những dân tộc ít người sống ở miền thượng du, ở trong các vùng rừng núi. Đó là các dân tộc Khạ, Stiêng, Phnông, Brao, Mơnông… sinh sống chủ yếu ở miền Đông và Đông Bắc Campuchia. Những người này sống dựa vào rừng núi, trồng lúa rẫy, săn bắn, đánh cá, khai thác gỗ… Ngoài người Khmer, ở Campuchia còn có người Hoa, người Việt, người Ấn, người Pháp.1 Campuchia buổi đầu dựng nước đến khi thực dân Pháp xâm lược: Từ thế kỷ I đến thế kỷ IV, Campuchia là một chư hầu của nước Phù Nam.
Theo các thư tịch cổ, nước này được sử sách Trung Hoa ghi chép với tên gọi là Chenla, được hình thành vào khoảng cuối thế kỷ V, mạnh lên vào cuối thế kỷ VI, chỉ trong vòng nửa đầu thế kỷ VII đã rứt bỏ sự thần phục Phù Nam. Quốc gia Chân Lạp chính là quốc gia sơ kỳ của người Khmer. Triều đại cầm quyền của Chenla có nguồn gốc từ nhân vật thần thoại Campu, lấy nàng Naga con gái thần nước biến thành thiếu nữ. Tên gọi của nước Campuchia xuất hiện vào khoảng thế kỷ X, gắn liền với nhân vật này [27:128].
Sự bành trướng rộng lớn về lãnh thổ trải qua thời gian dẫn đến sự khác biệt giữa hai bộ phận của người Khmer ở miền Bắc và miền Nam. Vào đầu thế kỷ VIII, Vương quốc của người Khmer bị phân làm hai loại: một nửa phiá Bắc lập thành quốc gia riêng ở lưu vực sông Sémun có tên là Lục Chân Lạp, còn ở miền Nam, một số thủ lĩnh điạ phương xây dựng cát cứ riêng. Vào năm 787, người Java tấn công vào miền Nam và cai trị cho đến năm 802. Từ năm 802 đến năm 1432 là thời kỳ rực rỡ nhất của quốc gia phong kiến Campuchia và được gọi là “thời kỳ Ăngkor”(1).
Lúc này, nhà nước Campuchia trở thành một trong những vương quốc mạnh nhất trong khu vực. “Dưới thời Jayavarman VII (1181-1201) quân Campuchia đã tiến đánh Chămpa, biến vương quốc này thành một tỉnh của Angkor, sau đó lại thu phục vùng trung và hạ lưu sông Mê Nam, thu phục địa bàn của vương quốc Môn – Hazipunjaya, tiến sát biên giới Myanmar và lãnh thổ Campuchia được mở rộng tới miền Bắc bán đảo Mã Lai” [41:32]. Đây là giai đoạn khôi phục nền độc lập của Campuchia dưới ách thống trị của người Java và bước đầu thực hiện việc củng cố cộng đồng tộc người, và đã có (1) Sở dĩ gọi là “thời kỳ Ăngkor” là vì kinh đô lúc đó xác lập ở Ăngkor thuộc tỉnh Siêm Riệp. 15 những sáng tạo lớn trong lĩnh vực văn hoá và đời sống.
Nét nổi bật trong giai đoạn này là sự ổn định, thống nhất Bắc Nam, gắn liền với sự củng cố kinh đô Ăngkor. Sự phát triển kinh tế - xã hội đã bắt đầu với việc hình thành những hồ chứa nước như Barây Tây. Đây thực sự là giai đoạn phát triển của một nhà nước phong kiến, chuẩn bị cho giai đoạn phát triển cao hơn, cực thịnh của vương triều Ăngkor. Từ năm 1336, Vương triều Ăngkor bị suy yếu trước sự tấn công của người Thái.
Từ năm 1352 đến năm 1357, Campuchia rơi vào ách thống trị của người Thái. Vào những năm 1440, tầng lớp cai trị Khmer đã từ bỏ vùng Ăngkor và Vương triều này hoàn toàn chấm dứt vào năm 1434 [42:29]. Từ đây lịch sử Campuchia bước vào thời kỳ mới, thời kỳ “Hậu Ăngkor”. Từ năm 1467, triều đình Campuchia lâm vào cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc và triền miên.
Bên cạnh việc người Thái không ngừng tấn công vào Campuchia thì trong dòng họ nhà vua cũng xảy ra những cuộc tranh chấp quyết liệt về quyền kế vị, dẫn đến sự can thiệp của người Thái, cũng như sự chia cắt đất nước ra để cai trị. Vào lúc này, chế độ phong kiến Campuchia đang trên đường suy tàn và giai cấp cầm quyền đã phải tìm kiếm sự trợ giúp của nước ngoài để giải quyết cuộc tranh giành quyền lực nội bộ. “Cuộc khủng hoảng và xung đột giữa các thế lực kéo dài triền miên từ năm 1767 đến năm 1794. Năm 1806, người Thái đưa Ang Chan lên ngôi lấy hiệu là Ang Chan II.
Người Thái còn nhúng tay vào nhiều công việc nội bộ của Campuchia và kiềm chế địa vị của vua Ang Chan II. Chính trong thời kỳ này, trước sự lục đục nội bộ hoàng tộc Campuchia và trước sức ép của người Thái, vua Ang Chan II đã cầu viện triều đình Huế và nhà Nguyễn đã can thiệp đẩy lùi được sự tấn công của quân Thái” [42:32]. Không chấp nhận thực trạng này, năm 1833, người Thái tổ chức tấn công nhằm chiếm lại Phnom Penh. Song với sự giúp đỡ của triều đình nhà Nguyễn, Ang Chan tiếp tục giữ vững được vương triều của mình.
Năm 1845, hai bên Thái và Việt đình chiến và sau đó đưa Ang Đương lên ngôi vua dưới sự chứng kiến của đại diện hai 16 bên vào năm 1847. Sự can thiệp và xâm lăng của người Thái vào đất nước Campuchia kéo dài đến tận hiệp ước Pháp – Xiêm được ký vào năm 1876.