CHƯƠNG I: NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ AUSTRALIA.1 Những khái niệm chung. Không chỉ riêng cộng đồng người Việt Nam mà bất kỳ một dân tộc nào ở Australia đều phải trải qua một thời gian dài để thích nghi văn hóa ở một quốc gia mới và phát triển như Australia. Để có thể tìm hiểu cuộc sống của cộng đồng người Việt Nam ở Australia trước hết ta phải làm rõ các khái niệm văn hóa là gì, và giao lưu tiếp biến văn hóa là gì, khái niệm cộng đồng dân cư, khái niệm di cư. Với những nội hàm khác nhau khái niệm văn hóa trở nên vô cùng đa dạng và phong phú.
Khái niệm văn hóa bao trùm hầu hết tất cả các mặt trong đời sống tinh thần lẫn vật chất của con người. Mỗi một quốc gia khác nhau, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, và thậm chí mỗi một nhà nghiên cứu khoa học khác nhau, sẽ cho ra đời một khái niệm văn hóa theo những khuynh hướng khác nhau. Nhưng suy cho cùng thì dù là định nghĩa nào thì cũng không thể phủ định mối quan hệ mật thiết giữa con người và văn hóa. Trong tiếng Hán, nghĩa nguyên thủy ban đầu có nghĩa là những nét xăm mình tạo thành dấu hiệu nhận biết để phân biệt mình với người khác.
Trong tiếng Latinh từ tương ứng với văn hóa của tiếng Việt xuất phát từ chữ Cultura với ý nghĩa là trồng trọt, chăm sóc cây trồng cho tươi tốt và dần dần phát triển lên thành Culture mang ý là vun bón cho con người tốt đẹp và có giá trị hơn.[33; 2] Không thể thống kê số lượng chính xác các định nghĩa về văn hóa, nhưng có thể khái quát ước chừng khoảng hơn hai ngàn định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Điều này còn tùy thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu, cách tiếp cận,…nhưng xét theo cách thức thì định nghĩa văn hóa có hai loại: định nghĩa miêu tả và định nghĩa nêu đặc trưng. [32; 2] Các định nghĩa miêu tả: Ví dụ điển hình nhất của các định nghĩa miêu tả là định nghĩa của Edward Burnett Tylor (1871) đã định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa hay 12 văn minh hiều theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”. [3; 13] Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh được xem như là một, mặc dù chúng vẫn tồn tại những điều khác biệt khá lớn, nhưng đây có thể xem như là định nghĩa đầu tiên về văn hóa.
Các định nghĩa nêu đặc trưng: Trong các định nghĩa nêu đặc trưng sẽ bắt gặp ba khuynh hướng chính đó là xem văn hóa như là những kết quả nhất định, như những quá trình và là những quan hệ. [34; 2] Có thể lấy một ví dụ minh họa cho các định nghĩa xem văn hóa như những kết quả nhất định là định nghĩa của F. Boas“Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau”. [4; 149] Bên cạnh đó còn khá nhiều định nghĩa khác, các định nghĩa này liên tục ra đời và phát triển hoàn thiện hơn.
Trong số đó phải kể đến khái niệm văn hóa của UNESCO (1994) được phát triển từ những ý tưởng của L.White: “Văn hóa là một tập hợp hệ thống biểu trưng quy định thế ứng xử của con người và làm số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt.” [34; 2] Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa cũng phong phú không kém gì các quốc gia khác. Đầu tiên không thể không nhắc đến là khái niệm văn hóa của Hồ Chí Minh(1940): “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Khái niệm này hiều theo nghĩa rộng là văn hóa bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Nhưng cũng có thể hiểu theo nghĩa hẹp: “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng.” [8; 314] Năm 1997, Trần Ngọc Thêm cũng đã đưa ra 13 khái niệm văn hóa phù hợp với xã hội Việt Nam: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất lẫn tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”. [9; 10] Sau khi trình bày hàng loạt các khái niệm về văn hóa, tôi nhận thấy các khái niệm tuy khác nhau, có khái niệm theo nghĩa rộng, có khái niệm theo nghĩa hẹp. Chúng ta không thể nào nói khái niệm nào là sai, khái niệm nào là chưa chính xác, cũng không có khái niệm nào là hoàn chỉnh nhất.
Chỉ có thể là một kết luận chúng là một hệ thống các khái niệm phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học, chúng bổ sung, làm sáng tỏ cho nhau, để có một khái niệm ngày càng hoàn chỉnh hơn. Văn hóa là một khái niệm có nội hàm và ngoại diên hết sức đa dạng, vì thế việc phân loại văn hóa là một điều vô cùng khó khăn. Tùy theo “mục đích sử dụng” mà đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí để phân loại, dù thế tất cả cũng chỉ mang tính tương đối mà thôi. Chẳng hạn như một số nhà nghiên cứu văn hóa chia văn hóa thành hai loại: Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể.
Hai khái niệm này được sử dụng khá phổ biến, khi nói đế kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và thẩm mĩ phục vụ cho đời sống con người, đó chính là văn hóa vật thể. Văn hóa vật thể là một bộ phận của văn hóa nhân loại, nó thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới dạng vật chất hiện hữu. Trong khi đó văn hóa phi vật chất là bao gồm toàn bộ những phong tục, tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỷ năng kèm theo những công cụ, đồ tạo tác và cả không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng trong quá trình sinh sống đã sáng tạo ra. Nhưng theo Trần Ngọc Thêm trong bài “Khái luận về văn hóa” thì dựa vào hai nhu cầu cơ bản của con người là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, tức là sẽ có hai hoạt động chính là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, nên có thể phân loại văn hóa thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Mặc dù việc phân loại này cũng có những vần đề phức tạp, như là có những hoạt động của con người nên xếp vào dạng văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần thì chính xác hơn? Nhưng nhìn chung cách phân loại này giúp chúng ta dễ dàng tiếp cận các loại hình văn hóa khi nghiên cứu về văn hóa của một cộng đồng hay một dân tộc. Trước hết phải tìm hiểu về hai khái niệm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần là gì? 14 Văn hóa vật chất là bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại.[34; 8] Văn hóa tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương. [34; 8] Qua khái niệm trên ta cũng thấy thật không dễ dàng gì để có thể phân chia rạch ròi các dạng hoạt động, các quan hệ sản xuất vào loại hình văn hóa vật chất hay tinh thần. Bởi lẽ giữa hai loại hình văn hóa này có mối quan hệ mật thiết và chuyển hóa cho nhau.
Ví dụ như: Cuốn sách, các pho tượng, các công trình chạm trỗ,…mặc dù chúng tồn tại dưới dạng vật chất hóa nhưng vẫn được xem là văn hóa tinh thần. Ngược lại như cái muôi thời Đông Sơn có gắn tượng người ngồi thổi khèn dùng để múc canh, chiếc ngai vàng được chạm trổ công phu dùng cho vua ngồi thiết triều…đây là các vật dụng sinh hoạt hằng ngày nhưng lại mang gía trị tinh thần rất cao. [34; 8] Khái niệm giao lưu tiếp biến văn hóa. Khái niệm giao lưu tiếp biến văn hóa (acculturation) được các nhà Nhân học phương Tây sử dụng vào cuối thế kỷ 19- đầu thế kỷ 20, khi tiến hành nghiên cứu sự thay đổi văn hóa của các nhóm di dân Châu Âu đến Mỹ với các nhóm dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời trên đất Mỹ.
Giao lưu tiếp biến văn hóa là một định nghĩa bao gồm hai quá trình đó là quá trình giao lưu văn hóa và quá trình tiếp biến văn hóa. Giao lưu văn hóa là sự chung sống của ít nhất hai nền văn hóa (của hai cộng đồng, hai dân tộc, hai đất nước) và giao lưu là hình thức quan hệ trao đổi văn hóa đôi bên cùng có lợi, thứ nhất là giúp đáp ứng một số nhu cầu không thể tự thỏa mãn của mỗi bên, thứ hai giúp tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa để từ đó làm nẩy sinh nhiều nhu cầu mới thúc đẩy mỗi nền văn hóa phát triển. [29; 3] Tiếp biến văn hóa là hiện tượng tiếp thu có chọn lựa một số yếu tố văn hóa ngoại lai và biến đổi chúng cho phù hợp với văn hóa bản địa, và sau một thời gian sử dụng và biến đổi tiếp thì chúng trở thành những yếu tố văn hóa bản địa ngoại sinh.