Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Chương 2: Đánh giá hiện trạng tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng tài nguyên Chương 3: Định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên huyện sóc sơn 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ: * Trên thế giới - Các lý thuyết kinh điển về định vị: + Lý thuyết về sử dụng đất (Von Thünen/ Alonso), lý thuyết định vị công nghiệp (Weber/ Smith/ Isard/ Moses), lý thuyết điểm trung tâm (Christaller/ Lösch), Lý thuyết cạnh tranh không gian (Hotelling). Lý thuyết về chi phí thấp nhất (Weber, 1929) (least cost theory) [49] liên quan đến phí vận chuyển, phí lao động và phí do nền kinh tế tập trung. Sự tập trung kinh tế dẫn đến chi phí cao đối với người lao động và tác động đến nền kinh tế.
Weber kết luận, phí giao thông là yếu tố chính quyết định đến vị trí sản xuất, vị trí tốt nhất là nơi có chi phí vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm với giá thấp nhất. Ý tưởng đơn giản này trở thành lý thuyết nền tảng của định vị hiện đại. Phát triển lý thuyết của Weber, Isard, Walter 1956 phát triển lên một lĩnh vực được biết đến như khoa học vùng, một nhánh của khoa học xã hội [61], nghiên cứu tác động của không gian đối với việc ra quyết định kinh tế. Khung phương pháp phân tích vùng và liên vùng sau đó vào năm 1960 và 1998 với những mô hình phân tích chi phí so sánh, phân tích input-output… đã trở thành những tiêu chuẩn trong quy hoạch vùng [56, 57].
Lý thuyết về vị trí phụ thuộc (Hotelling, 1931) [48] cho rằng, khi có yếu tố cạnh tranh, yếu tố về vị trí phụ thuộc sẽ xuất hiện, lý thuyết quan tâm đến phân tích doanh thu hơn là phân tích chi phí của weber, phân tích khoảng cách người tiêu dùng đến nơi bán sản phẩm hoặc chi phí phân phối sản phẩm đến người mua, Harold Hotelling cho rằng khi thị trường không co giãn xuất hiện nhiều nhà phân phối. Thị trường trở nên nhạy cảm về giá cả và lượng khách hàng, nhà phân phối phải tìm kiếm lượng khách hàng đối đa bằng cách phân bố lại thị trường. Ông kết luận, khi có sự cạnh tranh trong thị trường không co giãn, trường hợp hàng hóa 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhạy cảm với giá cả, khi đó khoảng cách phân phối xa sẽ không thuận lợi, khi đó các nhà phân phối cần phân chia lại thị trường. Không hài lòng với 2 phương pháp trên, Agust Losch đưa ra cách tiếp cận mới dựa trên lợi nhuận nhà sản xuất (Phương pháp lợi nhuận tối đa) [49].
Nguyên tắc thay thế (Substitution Principle) cho thấy nhiều quy trình sản xuất công nghiệp thay đổi để giảm chi phí đầu vào (lao động, nguyên liệu…). Và với sự tăng đầu tư thiết bị, tăng phí vận chuyển để giảm giá đất thuê, nhà sản xuất sẽ tìm được vị trí thích hợp. Các nghiên cứu định vị gắn với yếu tố đô thị có dung lượng nhiều hơn cả và được chia ra theo nhiều hướng. Đầu tiên là nghiên cứu cấu trúc không gian đô thị của Alfred Marshall (1890), William Alonso, 1964 (dựa trên mô hình của Thünen) [59] đề cập đến giá thuê đất, thành phố đơn tâm và đa tâm.
Hướng tiếp theo nghiên cứu chiều thứ 3 của lý thuyết định vị đô thị: chiều cao của các tòa nhà2. Georg Kohl (1850), Alfred Marshall (1890) sau này là Jean Gottmann (1966), Irving Hoch (1968) [58] đã phân tích chiều cao tối ưu của các toàn nhà và vấn đề sử dụng khoảng không của các thành phố. Đề cập đến vấn đề thuế đất, nhưng David Ricardo (1820), Henry George (1879) lại đưa ra khái niệm về thuế dựa trên độ màu mỡ của đất và giá trị đất đai; 2 ông đã đưa ra một hệ thống các thuế phải đóng dựa trên quan điểm này. Tiếp tục các vấn đề về đô thị là các nghiên cứu về chức năng đô thị.
Colin Clark (1951, 1967) là người đầu tiên khám phá phát hiện mật độ dân số có xu hướng giảm dần so với khoảng cách từ thành phố trung tâm. Sau đó Newling (1969, 1971) đã áp dụng thông số được phát triển bởi Muth (1969) chỉ ra mối tương quan mạnh giữa mật độ với tỷ lệ tăng trưởng, ông đã xác định mức mật độ tiêu chuẩn cho thành phố để đảm bảo tốc độ tăng trưởng, qua đó ông đề xuất đưa mật đô dân số vào trong tính toán quy hoạch thành phố. Cuối cùng, bàn về vấn đề ngoại ô và ranh giới của đô thị là những đóng góp của C.Ullman (1945), Rodney Erickson (1986), Garreau (1991), Giuliano & Small (1991) về vùng ven đô, những khu dân cư cao cấp ở ngoại ô; R.Longley (1994) 2 Có nhiều tác giả đồng nhất khái niệm tổ chức không gian với tổ chức lãnh thổ, tuy nhiên khái niệm không gian rộng hơn nhiều, bao gồm cả vùng dưới lòng đất, bề mặt đất, vùng trời so với tổ chức lãnh thổ theo chiều ngang 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các nghiên cứu về không gian và thời gian đã đưa lý thuyết định vị trở thành công cụ ra quyết định.
Nói đến định vị, không ít suy nghĩ đề cập ngay đến không gian, đây thực sự là một sự thiếu sót lớn. Thời gian trong lý thuyết định vị đề cập đến các khía cạnh: giá trị thời gian trong lưu thông, quỹ thời gian, sự hội tụ không gian và thời gian (Time-Space Convergence)… do D. Về tiếp cận cấu trúc thu hút một số lượng lớn các nghiên cứu trên nhiều khía cạnh. Nghiên cứu mối quan hệ liên vùng, mạng lưới hợp tác và các khối liên minh chiến lược có Duncan (1972), F.Trist (1965), Fleming & Krumme Bảng 1.1: Tổng kết xu hướng định vị trên thế giới Pha I Pha II Pha III Cách mạng công nghiệp Từ 1950 -1990 Từ 1990 đến nay Nhân tố cơ bản Nhân tố thứ 2 Nhân tố 3 (Primary factors) (Secondary factors) (Tertiary factors) Chi phí vận tải với chi phí Sự gần gũi thị trường Chính sách chính phủ sản xuất, giá nhân công Sự gần gũi đến nguồn cung/ Khía cạnh môi trường, tri thức nhà cung cấp dịch vụ của lực lượng lao động, định vị kinh doanh bền vững, chất lượng Những nhân tố tích tụ khác cuộc sống, môi trường đầu tư Tân cổ điển (chi phí thấp Lý thuyết cực tăng trưởng/ Lý thuyết cơ quan và cư xử nhất) Lý thuyết nhân quả tích lũy3 (Behavioural and institutional theories) Lý thuyết định vị Quần cư đô thị (Urban agglomeration) Khuyết tán không gian (Spatial Tập trung vùng diffusion) Nguồn: [57] 3 Mô hình nhân quả tích luỹ (Cumulative causation model): Một phương pháp phân tích tăng trưởng kinh tế khu vực do G.
Mô hình này cho rằng các lực lượng thị trường có khuynh hướng làm tăng bất bình đẳng về kinh tế giữa các khu vực của một nền kinh tế. Nó cũng cho rằng nếu một khu vực có tỷ lệ tăng trưởng cao hơn các khu vực khác sẽ khiến cho các yếu tố sản xuất trong khu vực tăng tưởng chậm chảy sang khu vực tăng trưởng nhanh 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu về cấu trúc không gian tổ chức có đề cập đến vị trí đặt trụ sở cơ quan điều hành, văn phòng (Johnston & Rimmer), Hymer (1972), Allan Pred (1977) [57]. Định vị có xu hướng chuyển từ chuyển từ các nhân tố cứng như chi phí vận chuyển, chi phí lao động… sang các nhân tố mềm hơn như chính sách, môi trường, chất lượng cuộc sống… Thực tế trên thế giới giai đoạn gần đây, cá doanh nghiệp chọn lựa vị trí do ưu đãi lớn về thuế thu nhập doanh nghiệp, phí môi trường và một thị trường lao động, tiêu thụ tiềm năng tại các nước đang phát triển.
Các nước đang phát triển tận dụng cơ hội thu hút FDI bằng cách cải thiện môi trường đầu tư, đưa ra chính sách ưu đãi về thuế giá trị gia tăng, phí môi trường đối với doanh nghiệp nước ngoài4. Pha 1: Ban đầu lý thuyết định vị được phát triển bởi Weber (1929) sau đó là Edgar Hoover (1937), Melvin Greenhut (1956) và Walter Isard (1956), tập trung chính vào các mô hình toán học về sự tối ưu hóa trong định vị liên quan đến chi phí vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm. Những công ty có xu hướng định vị gần nguồn nguyên liệu khi khối lượng của nguyên liệu lớn hơn rất nhiều so với khối lượng của sản phẩm và ngược lại. Tuy nhiên, một vấn đề xảy ra đối với lý thuyết của trường phái Weber, Marshall (1961) đã chỉ ra rằng có nhiều lợi ích khi các công ty tập trung gần gũi với nhau, thay vì phân tán như trước kia.
Lúc này định vị có thể phân bố tập trung về phía nguồn cung hoặc nguồn cầu (pha 2) [51]. * Ở Việt Nam Xuất hiện từ những năm 1960, tổ chức lãnh thổ ở Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi lịch sử, cùng với đòi hỏi khách quan từ nhu cầu phát triển kinh tế đất nước, cho đến nay có thể tạm phân ra thành các thời kỳ sau [14, 30, 31]: Trước năm 1975: công tác tổ chức lãnh thổ diễn ra chủ yếu ở miền Bắc, tập trung vào quy hoạch các vùng để thành lập các nông, lâm trường quốc doanh, các khu kinh tế mới phát triển nông lâm nghiệp, khai hoang và phân bố lại dân cư nông 4 Việt Nam là quốc gia có nhiều ưu đãi để thu hút đầu tư FDI, Thời gian gần đây, dư luận đang đặt ra nhiều nghi vấn chuyển giá, chốn thuế, đối với một số doanh nghiệp lớn của nước ngoài như Coca Cola, Pepsi, Metro… Thực tế định vi ở các quốc gia khác sẽ mang lại nhiều lợi ích thuế, chính sách, lao động, thị trường… cho các công ty. Một câu hỏi định vị quan trọng một lần nữa được đặt ra ―Nội lực hay ngoại lưc?‖ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tiếp đó là tiến hành quy hoạch các tiểu vùng, các vùng kinh tế mới ở trung du miền núi một số huyện và thị xã.
Giai đoạn này nước ta không triển khai phân vùng, quy hoạch cấp tỉnh và các ngành. Trước đòi hỏi phát triển nông nghiệp và năng lượng, Uỷ ban sông Hồng đã đưa ra một quy hoạch sử dụng và quản lý nguồn nước trên một vùng lãnh thổ rộng lớn mà sau đó nhiều công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, phát triển nông nghiệp đã được xây dựng. Các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, văn hoá xã hội.