Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Kế thừa trên cơ sở của những nghiên cứu về tính chất, đặc điểm của đất, công tác đánh giá đất cho phát triển NN được nhiều nước trên thế giới quan tâm nhằm thích ứng với sự suy thoái, ô nhiễm MT đất trước những thay đổi nhanh chóng, sự phát triển KT-XH và các yếu tố tự nhiên, đặc biệt là khí hậu. - Từ những năm 50 của thế kỷ XX, con người bắt đầu nhận thấy cần có những hiểu biết tổng hợp để đánh giá tiềm năng đất đai (Land) cho các mục tiêu sử dụng đã được xác định, do đó đánh giá đất đai được xem là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất (Soil).
Từ đó, công tác nghiên cứu và đánh giá đất đã trở thành chuyên ngành nghiên cứu quan trọng để phục vụ cho công tác quy hoạch và phát triển KT-XH, trong đó có NN và giảm nghèo cho người dân. - Ở Hoa Kì: Công tác nghiên cứu, đánh giá và phân loại đất đai có tưới được thực hiện từ năm 1951. Hệ thống phân loại bao gồm các lớp, từ lớp có thể trồng được (Arable) đến lớp có thể trồng được một cách giới hạn (Limited arable) và lớp không thể trồng được (non arable). Trong cách phân loại này, các chỉ tiêu kinh tế cũng được xem xét bên cạnh các đặc điểm và tính chất đất đai [7].
- Ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu: Được chú trọng và triển khai từ năm 1960 và phổ biến theo 2 phương pháp đánh giá: + Phương pháp đánh giá tổng hợp: Lấy năng suất cây trồng nhiều năm làm chuẩn và chú ý vào phân hạng đất đai cho từng cây trồng cụ thể. + Phương pháp đánh giá từng yếu tố: Bằng cách thống kê các chỉ tiêu tự e 7 nhiên, kinh tế để so sánh trong đó lấy lợi nhuận làm điểm mốc để so sánh với các loại đất khác. - Ở các nước còn lại thuộc châu Âu: Việc đánh giá và phân hạng thích hợp đất cũng được chú trọng thực hiện và phổ biến theo 2 hướng là định tính và định lượng như: Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên để xác định tiềm năng sản xuất (định tính) và nghiên cứu các yếu tố kinh tế, xác định sức sản xuất thực tế của đất đai (định lượng). - Ở Ấn Độ và các quốc gia thuộc vùng nhiệt đới ẩm châu Phi: Thường áp dụng phương pháp tham biến để biểu thị mối quan hệ của các yếu tố dưới dạng phương trình toán học.
Kết quả phân hạng đất được thể hiện bằng phần trăm hoặc cho điểm. - Từ những năm 70 của thế kỷ XX, song song với tiến trình thống nhất quan điểm về phân loại thổ nhưỡng, FAO đã tài trợ những chương trình nghiên cứu có tính toàn cầu về đánh giá đất đai (ĐGĐĐ) và sử dụng đất đai trên quan điểm bền vững. Thời gian này, FAO đã tập hợp những nhà khoa học đất và chuyên gia đầu ngành về NN để tổng hợp các kinh nghiệm về đánh giá đất của các quốc gia, kết quả là xây dựng bộ tài liệu “Đề cương đánh giá đất đai” (FAO, 1976), sau đó được bổ sung, hoàn chỉnh năm 1983. Tài liệu này được nhiều nước trên thế giới quan tâm, thử nghiệm vận dụng và được chấp nhận là phương tiện tốt nhất để đánh giá đất tiềm năng đất đai [19].
Ngoài tài liệu hướng dẫn công tác ĐGĐĐ, có nhiều tài liệu khác hướng dẫn cụ thể về ĐGĐĐ cho từng đối tượng chuyên biệt được FAO xuất bản như: Đánh giá đất đai cho nền NN nhờ nước mưa (FAO, 1984); Đánh giá đất đai cho nền NN được tưới (FAO, 1985). Ngày nay, công tác ĐGĐĐ được thực hiện ở nhiều quốc gia, trở thành khâu trọng yếu của hoạt động đánh giá tài nguyên phục vụ quy hoạch sử dụng đất đai [11], [22]. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, công tác phân hạng, ĐGĐĐ đã có từ lâu. Ở thời phong kiến cho thấy sự phân hạng các thửa đất khác nhau để sử dụng với nhiều mục đích là minh chứng cho điều này.
Năm 1945, miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội nên việc đánh giá, phân hạng đất phục vụ sản xuất NN nhằm tăng cường công tác quản lý và là hậu phương cho chiến trường miền Nam đã được thực hiện bởi Vụ quản lý đất và Viện nông hóa thổ nhưỡng. Từ đó cho đến nay, công tác quy hoạch ĐGĐĐ ở Việt Nam đã được nhiều cơ quan nghiên cứu và thực hiện bởi Viện Quy hoạch và Thiết kế NN, Viện Nông hóa – Thổ nhưỡng, Tổng cục địa chính…[4]. - Đến thập niên 70 của thế kỷ XX, nhà khoa học Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học khác của Viện Nông hóa – Thổ nhưỡng đã đánh giá phân hạng đất đai cho 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh. Đây chính là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình kỹ thuật đánh giá phân hạng đất đai sau này ở Việt Nam.
Trên cơ sở của công trình nghiên cứu này, năm 1981 Tổng cục quản lý ruộng đất đã ban hành dự thảo phương pháp phân hạng đất, trong đó yêu cầu công tác phân hạng đất đai phải dựa trên các cơ sở như: Vùng địa lí thổ nhưỡng, loại và nhóm cây trồng đặc thù của địa phương, trình độ thâm canh và mối tương quan với năng suất cây trồng. Đây được xem là tài liệu hướng dẫn vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn, có thể áp dụng trên diện rộng. Trong thời kỳ này đáng chú ý nhất là phương pháp đánh giá khả năng thích nghi đất đai của FAO đã được tiếp cận và áp dụng rộng rãi ở Việt Nam với nhiều công trình nghiên cứu, điển hình: Công trình Đánh giá đất và phân hạng đất khái quát toàn quốc của Tôn Thất Chiểu cùng cộng sự (1984), đã thành lập được bản đồ 1:500.000 cho toàn quốc. Với mục tiêu cho quy hoạch sử dụng tổng hợp đất đai trên toàn quốc dựa e 9 trên sự phân loại khả năng đất đai của Bộ NN Hoa Kỳ và chỉ tiêu sử dụng đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình.
Công trình Đánh giá và quy hoạch sử dụng đất hoang ở Việt Nam của Bùi Quang Toản và cộng sự (1985), công trình này mới chỉ dừng lại ở cấp phân vị lớp thích hợp và đánh giá đất dựa vào điều kiện tự nhiên. Từ năm 1994, phương pháp đánh giá đất của FAO đã được Viện Quy hoạch và Thiết kế NN áp dụng rộng rãi trong các dự án quy hoạch phát triển ở các cấp trên cả nước và có được tính khả thi rất cao như ĐGĐĐ của 7 vùng kinh tế trên toàn quốc với tỉ lệ bản đồ 1:250. Sau đó là một số công trình đánh giá đất đai trên phạm vi, lãnh thổ khác nhau: Trần An Phong (1995) “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất cho mục tiêu phát triển lâu bền”; Phạm Quang Khánh (1995) “Tài nguyên đất vùng Đông Nam Bộ, hiện trạng và tiềm năng”… Các công trình đã vận dụng phương pháp của FAO vào việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đề xuất hướng sử dụng tài nguyên đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền. Do đó, đất đai không chỉ đề cập đến thổ nhưỡng mà còn bao gồm địa hình, khí hậu, thuỷ văn, sinh vật cùng với những công trình cải tạo đất như hệ thống đê điều, hay các hệ thống tưới tiêu.
Đơn vị cơ sở đánh giá là các đơn vị đất đai (ĐVĐĐ) được xác định dựa trên các chỉ tiêu (loại đất, độ dày tầng đất, độ dốc, lượng mưa, thuỷ văn, tưới tiêu, nhiệt độ). Kết quả đánh giá đã khẳng định nội dung, phương pháp ĐGĐĐ theo tiêu chuẩn của FAO vào điều kiện cụ thể của Việt Nam là phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay [20]. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định nội dung và phương pháp ĐGĐĐ theo FAO đã được vận dụng có hiệu quả ở nước ta, phục vụ có hiệu quả về quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH các địa phương cũng như quy hoạch sử dụng đất. Các cơ quan nghiên cứu đất đai ở Việt Nam đang và sẽ tiếp tục vận dụng phương pháp đánh giá đất đai của FAO vào sản xuất NN theo nhiều hướng khác nhau nhằm thích ứng với tình hình mới hiện nay.
Như vậy, qua tổng quan các công trình nghiên cứu về tài nguyên đất và e 10 phát triển NN bền vững; phương pháp nghiên cứu và ĐGĐĐ trên thế giới và Việt Nam; những hướng nghiên cứu của các nhà khoa học thổ nhưỡng được xem là cơ sở khoa học cần thiết để tác giả kế thừa, tham khảo xác định các phương pháp, chỉ tiêu đánh giá đất đai ở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định để phục vụ cho đề tài luận văn của mình. Tình hình nghiên cứu ở tỉnh Bình Định và huyện Phù Mỹ * Trước năm 1975 Từ năm 1954 đến 1973 các công trình nghiên cứu và lập bản đồ đất của F. Moorman, Goden, Trương Đình Phú, Châu Văn Hạnh đã phản ánh khái quát về sự phân bố địa lý, đặc điểm của một số loại đất chính và phần nào đề cập đến việc phân hạng sử dụng đất ở các tỉnh phía Nam. Bản đồ đất tổng quát miền Nam Việt Nam tỷ lệ 1/1.
Trên cơ sở những giải đoán không ảnh, bằng việc sử dụng các tổ hợp và các nhóm đất có cùng nguồn gốc phát sinh. Tác giả đã xây dựng một chú dẫn tổng quát cho bản đồ này gồm 25 đơn vị đất. Mặc dù là một bản đồ tổng quát tỷ lệ nhỏ, nhưng tác giả đã phát hiện hầu hết các loại đất chính ở miền Nam Việt Nam nói chung và các loại đất ở tỉnh Bình Định nói riêng. Các loại đất này tương đối phù hợp với các tác giả sau này: Thái Công Tụng (1973), Viện Quy hoạch và Thiết kế NN (1976 – 1992).
Tuy vậy, do ảnh hưởng của chiến tranh, gây khó khăn cho khảo sát thực địa và với bản đồ tỷ lệ nhỏ, tác giả chỉ thể hiện được một cách khái quát các tên gọi các loại đất chính. Bản đồ kèm theo một chú dẫn đơn giản không có số liệu phân tích. * Sau năm 1975 Năm 1976 – 1978 Viện Thổ nhưỡng – Nông hóa, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, tổ chức điều tra, xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/100.