phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì đề án đƣợc cấu trúc trong ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Đánh giá thích hợp đất đai cho phát triển cây dƣợc liệu trên địa bàn thị xã An Khê và đề xuất giải pháp 7 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về điều kiện đất đai cho phát triển cây trồng 1. Trên thế giới Trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam, nghiên cứu đất đai cho đề xuất định hƣớng phát triển cây trồng nông nghiệp nói chung và một số lại cây trồng đƣợc bắt đầu từ khá sớm. Từ những năm 50 của thế kỷ XX, con ngƣời bắt đầu nhận thấy cần có những hiểu biết tổng hợp để đánh giá tiềm năng đất đai (land) cho các mục tiêu sử dụng đã đƣợc xác định, do đó đánh giá đất đai đƣợc xem là bƣớc nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất (soil).
Từ đó, công tác nghiên cứu và đánh giá đất đã trở thành chuyên ngành nghiên cứu quan trọng để phục vụ cho công tác quy hoạch và phát triển KT - XH, trong đó có nông nghiệp và giảm nghèo cho ngƣời dân. Bởi nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất đai có thể cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn đáng tin cậy, giúp các nhà quản lý xem xét, lựa chọn và đƣa ra quyết định các phƣơng án sử dụng đất cho phát triển cây trồng một cách hợp lý. Những thông tin tƣ liệu đầy đủ và toàn diện cả về ĐKTN, KT- XH và môi trƣờng trong đánh giá đất đai giúp cho các giải pháp sử dụng đất cho phát triển tự nhiên hoàn toàn có tính khả thi, bởi lƣờng trƣớc đƣợc những thuận lợi và khó khăn, đề xuất đƣợc những giải pháp phù hợp nhằm sử dụng đất hợp lý và đạt hiệu quả cao. Việc lựa chọn phƣơng pháp đánh giá khoa học, phù hợp là khâu hết sức quan trọng bởi nó quyết định rất nhiều đến kết quả đánh giá.
Do vậy, các nƣớc phát triển trên thế giới đều xây dựng cho mình một phƣơng pháp đánh giá đất phù hợp với điều kiện lãnh thổ của quốc gia, làm cơ sở cho sử dụng đất nông nghiệp một cách hợp lý. Có thể khái quát phƣơng pháp đánh giá đất đai đã và đang đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng trong đó có Việt Nam. - Ở Hoa Kỳ: Công tác nghiên cứu, đánh giá và phân loại đất đai có tƣới đƣợc thực hiện từ năm 1951. Hệ thống phân loại bao gồm các lớp, từ lớp có thể trồng đƣợc (Arable), đến lớp có thể trồng đƣợc một cách giới hạn (Limited arable) và lớp không thể trồng đƣợc (non arable).
Trong cách phân loại này, các chỉ tiêu kinh tế cũng đƣợc xem xét bên cạnh các đặc điểm và tính chất đất đai [5]. 8 - Ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu: Đƣợc chú trọng và triển khai từ năm 1960 và phổ biến theo 2 phƣơng pháp đánh giá: Phƣơng pháp đánh giá tổng hợp: Lấy năng suất cây trồng nhiều năm làm chuẩn và chú ý vào phân hạng đất đai cho từng cây trồng cụ thể; Phƣơng pháp đánh giá từng yếu tố: Bằng cách thống kê các chỉ tiêu tự nhiên, kinh tế để so sánh trong đó lấy lợi nhuận làm điểm mốc để so sánh với các loại đất khác. - Ở các nước còn lại thuộc châu Âu: Việc đánh giá và phân hạng thích hợp đất đai cũng đƣợc chú trọng thực hiện và phổ biến theo 2 hƣớng là định tính và định lƣợng nhƣ: Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên để xác định tiềm năng sản xuất (định tính) và nghiên cứu các yếu tố kinh tế, xác định sản xuất thực tế của đất đai (định lƣợng). - Ở Ấn Độ và các quốc gia thuộc vùng nhiệt đới ẩm châu Phi: Thƣờng áp dụng phƣơng pháp tham biến để biểu thị mối quan hệ của các yếu tố dƣới dạng phƣơng trình toán học.
Kết quả phân hạng đất đƣợc thể hiện bằng phần trăm hoặc cho điểm [5]. Từ những năm 70 của thế kỷ XX, song song với tiến trình thống nhất quan điểm về phân loại thổ nhƣỡng, FAO đã tài trợ những chƣơng trình nghiên cứu có tính toàn cầu về đánh giá đất đai và sử dụng đất đai trên quan điểm bền vững. Thời gian này, FAO đã tập hợp những nhà khoa học đất và chuyên gia đầu ngành về nông nghiệp để tổng hợp các kinh nghiệm về đánh giá đất của các quốc gia, kết quả là đã xây dựng đƣợc bộ tài liệu “Đề cƣơng đánh giá đất đai” (FAO, 1976), sau đó đƣợc bổ sung, hoàn chỉnh năm 1983. Tài liệu này đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm, thử nghiệm, vận dụng và đƣợc chấp nhận là phƣơng tiện tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai.
Ngoài tài liệu hƣớng dẫn công tác ĐGĐĐ, có nhiều tài liệu khác hƣớng dẫn cụ thể về ĐGĐĐ cho từng đối tƣợng chuyên biệt đƣợc FAO xuất bản nhƣ: Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ nƣớc mƣa (FAO, 1984); Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp đƣợc tƣới (FAO, 1985); Hƣớng dẫn đặt kế hoạch sử dụng đất (1988); Đánh giá đất đai cho đồng cỏ quảng canh (1989); Đánh giá đất đai cho mục tiêu phát triển (1990); Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho việc sử dụng đất (1990) [4]. Ngày nay, công tác ĐGĐĐ đƣợc thực hiện ở nhiều quốc gia, trở thành khâu trọng yếu của hoạt động đánh giá tài nguyên phục vụ quy hoạch sử dụng đất đai [2], [12]. Sơ đồ đề cƣơng đánh giá đất đai theo FAO [5] Nhận thấy, ngày nay công tác đánh giá đất đai đƣợc thực hiện trên nhiều quốc gia và trở thành một khâu trọng yếu của hoạt động đánh giá tài nguyên hay phục vụ quy hoạch sử dụng đất đai nay cho phát triển cây trồng nông nghiệp nói chung và cây trồng khác nói riêng 1. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, công tác phân hạng, ĐGĐĐ đã có từ lâu, ở thời phong kiến cho thấy sự phân hạng các thửa đất khác nhau, để sử dụng với nhiều mục đích là minh chứng cho điều này.
Năm 1954, miền Bắc tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội nên việc đánh giá, phân hạng đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nhằm tăng cƣờng công tác quản lý và là hậu phƣơng cho chiến trƣờng miền Nam đã đƣợc thực hiện bởi Vụ quản lý đất và Vụ nông hóa thổ nhƣỡng. Từ đó cho đến nay, công tác quy hoạch ĐGĐĐ ở Việt 10 Nam đã đƣợc nhiều cơ quan nghiên cứu và thực hiện bởi Viện quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, Viện nông hóa – Thổ nhƣỡng, Tổng cục địa chính. Đến thập niên 70 của thế kỷ XX, nhà khoa học Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học khác của viện Nông hóa - Thổ nhƣỡng đã đánh giá phân hạng đất đai cho 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh. Đây chính là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình kỹ thuật đánh giá phân hạng đất đai sau này ở Việt Nam.
Trên cơ sở của công trình nghiên cứu này, năm 1981 Tổng cục quản lý ruộng đất đã ban hành dự thảo phƣơng pháp phân hạng đất, trong đó có yêu cầu công tác phân hạng đất đai phải dựa trên các cơ sở nhƣ: Vùng địa lý thổ nhƣỡng, loại và nhóm cây trồng đặc thù của địa phƣơng, trình độ thâm canh và mối tƣơng quan với năng suất cây trồng. Đây đƣợc xem là tài liệu hƣớng dẫn vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn, có thể áp dụng trên diện rộng [11]. Trong thời kỳ này đáng chú ý nhất là phƣơng pháp đánh giá khả năng thích nghi đất đai của FAO đã đƣợc tiếp cận và áp dụng rộng rãi ở Việt Nam với nhiều công trình nghiên cứu, điển hình: Công trình đánh giá đất và phân hạng đất khái quát toàn quốc của Tôn Thất Chiểu cùng cộng sự năm 1984, tỷ lệ bản đồ 1:5. Với mục tiêu cho quy hoạch sử dụng tổng hợp đất đai trên toàn quốc dựa trên sự phân loại khả năng đất đai của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ và chỉ tiêu sử dụng đặc điểm thổ nhƣỡng và địa hình.
Sử dụng đất hoang ở Việt Nam (Bùi Quang Toản và cộng sự 1985), công trình này chỉ dừng lại ở cấp phân vị thích hợp và đánh giá đất dựa vào điều kiện tự nhiên. Từ năm 1994, phƣơng pháp đánh giá đất của FAO đã đƣợc Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp áp dụng rộng rãi trong các dự án quy hoạch phát triển ở các cấp trên cả nƣớc và có đƣợc tính khả thi rất cao nhƣ ĐGĐĐ của 7 vùng kinh tế trên toàn quốc với tỷ lệ bản đồ 1: 250. Sau đó là một số công trình đánh giá đất đai trên phạm vi, lãnh thổ khác nhau: Trần An Phong (1995) “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất cho mục tiêu phát triển lâu bền”; Phạm Quang Khánh (1995) “Tài nguyên đất vùng Đông Nam Bộ, hiện trạng và tiềm năng”… Các công trình đã vận dụng phƣơng pháp của FAO vào việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đề xuất hƣớng sử dụng tài nguyên đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền. Do đó, đất đai không chỉ đề cập đến thổ nhƣỡng mà còn bao gồm địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật cùng với những công trình cải tạo đất nhƣ hệ thống đê điều, hay các hệ thống 11 tƣới tiêu.
Đơn vị cơ sở đánh giá là các ĐVĐĐ đƣợc xác định dựa trên các chỉ tiêu (loại đất, độ dày tầng đất, độ dốc, lƣợng mƣa, thủy văn, tƣới tiêu, nhiệt độ). Kết quả đánh giá đã khẳng định nội dung, phƣơng pháp ĐGĐĐ theo tiêu chuẩn FAO vào điều kiện cụ thể của Việt Nam là phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay [9]. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định nội dung và phƣơng pháp ĐGĐĐ theo FAO đã đƣợc vận dụng có hiệu quả ở nƣớc ta, phục vụ có hiệu quả về quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH các địa phƣơng, cũng nhƣ quy hoạch sử dụng đất. Các cơ quan nghiên cứu đất đai ở Việt Nam đang và sẽ tiếp tục vận dụng phƣơng pháp đánh giá đất này vào sản xuất nông nghiệp theo các chiều hƣớng khác nhau nhằm thích ứng với tình hình mới hiện nay.