Mở đầu Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý tổng hợp đới bờ Chƣơng 2. Tình hình nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Cơ sở khoa học phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ huyện đảo Phú Quốc Kết luận 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ 1. Một số khái niệm về đƣờng bờ và đới bờ 1. Quan niệm về đới bờ ở một số nước trên thế giới Đới bờ (Coastal Zone) hay vùng bờ (Coastal Area) là một bộ phận đặc biệt và quan trọng của bề mặt Trái Đất, nơi có sự chuyển tiếp dần cho nhau giữa biển và lục địa, có sự tiếp xúc giữa các quyển: thạch quyển, sinh quển, thủy quyển, khí quyển của Trái Đất và là nơi chứa đựng các hệ sinh thái có năng suất cao nhất, giàu có và đa dạng sinh học. * Định nghĩa về mặt tự nhiên của đới bờ Mang tính khái quát và đƣợc sử dụng khá rộng rãi là định nghĩa đới bờ trong mối tƣơng tác giữa môi trƣờng biển và lục địa: “Đới bờ là một vùng chuyển tiếp mà ở đó môi trƣờng lục địa tƣơng tác lẫn nhau và hình thành một môi trƣờng thống nhất” (Barbara E.
Về mặt lý thuyết, định nghĩa thể hiện một cách đầy đủ bản chất của đới bờ, là một không gian cụ thể mà ở đó môi trƣờng tự nhiên mang đặc thù riêng bởi sự kết hợp giữa môi trƣờng của biển và môi trƣờng lục địa, đồng thời mang tính tổng quát cao. Đây cũng là định nghĩa đƣợc rất nhiều các sách khi viết về môi trƣờng tự nhiên của đới bờ sử dụng. Trong chƣơng trình quản lý nguồn tài nguyên ven biển khu vực Đông Á, khi đề cập đến việc phân định ranh giới của đới bờ, các nhà nghiên cứu của các nƣớc ASEAN đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa vấn đề sinh thái nhân văn với các vấn đề địa kinh tế - xã hội trong việc phân định đới bờ. Với cách tiếp cận này, các nhà nghiên cứu cho rằng đới bờ là vùng kinh tế - xã hội và nhân văn có liên quan đến quá trình khai thác tài nguyên ven biển theo quan điểm phát triển bền vững phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc.
Quan điểm phân định này nghiêng về khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, các yếu tố về địa sinh thái còn mờ nhạt. Mặt khác phạm vi không gian của đới bờ ở đây là tƣơng đối mở và không xác định cụ thể. Việc xác định phạm vi ranh giới của đới bờ là bao nhiêu km từ bờ biển vào trong đất liền phụ thuộc vào mức độ đầu tƣ phát triển của các ngành dựa vào khai thác các nguồn tài nguyên biển và ven biển 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của mỗi quốc gia. Theo chúng tôi quan điểm này chỉ phù hợp đối với các quốc gia nhỏ ven biển nhƣ Singapore và các quốc gia đảo khác.
Đối với khoa học địa mạo, đới bờ đƣợc xem là nơi tƣơng tác giữa đất liền và biển cả để tạo ra các dạng địa hình đặc thù cho nó. Tại đây, sóng biển và các loại dòng chảy do nó sinh ra là yếu tố động lực rất quan trọng đối với sự hình thành và biến đổi địa hình cũng nhƣ trầm tích. Bên cạnh đó, các yếu tố thủy triều, sông, dòng chảy, gió, sinh vật,… cũng giữ vai trò không kém phần quan trọng.[14] * Định nghĩa trong nghiên cứu khai thác sử dụng tài nguyên và hoạch định chính sách quản lý tổng hợp đới bờ Đới bờ là nơi có môi trƣờng sống hết sức đa dạng và bao gồm nhiều hệ sinh thái phong phú khác nhau nhƣ cửa sông, cỏ biển, san hô, đầm phá, vũng vịnh, bãi triều… Các sản phẩm tự nhiên của đới bờ với các hệ thống đới bờ với các hệ xung quanh nó. Trên thực tế, việc quản lý đới bờ xuất phát từ những hành vi tác động của con ngƣời.
Các hành vi này có thể ảnh hƣởng trực tiếp đến đới bờ hoặc thông qua mối quan hệ giữa hệ thống đới bờ với các hệ xung quanh nó. Trên thực tế, việc quản lý đới bờ xuất phát từ những hành vi tác động của con ngƣời lên hệ thống đới bờ với mục đích là bảo vệ và phát triển hệ thống tài nguyên đới bờ. Đới bờ Hệ thống tài nguyên đới bờ Hình 1. Mối quan hệ giữa đới bờ và hệ thống tài nguyên đới bờ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Quan niệm về đới bờ ở Việt Nam Trong đề tài “Nghiên cứu xây dựng phƣơng án quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam, góp phần bảo đảm an toàn môi trƣờng và phát triển bền vững” (KT.07) thuộc Chƣơng trình “Điều tra nghiên cứu biển” giai đoạn 1996 - 2000 do Phân viện hải dƣơng học tại Hải Phòng, nay là Viện Tài nguyên và Môi trƣờng biển thực hiện (1996 – 2000), các tác giả đã đƣa ra khái niệm về đới bờ (hay đới bờ) nhƣ sau: Đới bờ là một khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển, một đới động và nhạy cảm, là một hệ thống tự nhiên đặc trƣng bởi các quá trình tƣơng tác; một khu vực có tiềm năng tài nguyên phục vụ phát triển đa ngành và là nơi chịu tác động mạnh của các hoạt động của con ngƣời. Về phạm vi ranh giới của đới bờ, các tác giả cho rằng có nhiều cách phân định khác nhau phụ thuộc vào quan niệm và mục đích khác nhau của các hoạt động quản lý. Theo các tác giả thì trên quy mô toàn cầu, ngƣời ta thƣờng xác định giới hạn về phía lục địa của đới bờ là các đồng bằng ven biển, ở nơi khác là giới hạn của thủy triều; còn giới hạn về phía biển là rìa thềm lục địa. Còn ở quy mô một Quốc gia thì đới bờ có không gian hẹp hơn.
Về phía lục địa là đƣờng nối các điểm còn chịu tác động của biển nhƣ: ranh giới xâm nhập mặn, tác động của sóng bão, giới hạn thủy triều…, ở nơi khác thì lấy điểm cách đƣờng bờ 10km, là phạm vi mà ở đó các hoạt động của con ngƣời có thể tác động trực tiếp đến môi trƣờng cửa sông ven biển. Còn về phía biển là đƣờng đẳng sâu bằng một phần hai bƣớc sóng (thƣờng nằm giữa 30 - 50m nƣớc). Tại khu vực này, sóng biển có thể tác động trực tiếp, làm biến cải địa hình đáy. Theo quyết định Số: 158/2007/QĐ-TTg của thủ tƣớng chính phủ: Phạm vi không gian đới bờ bao gồm: a) Phần đất liền: bao gồm tất cả các quận, huyện, thị xã ven biển của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng nêu trên; b) Phần biển: bao gồm vùng biển ven bờ cách bờ 6 hải lý trở vào của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng nêu trên.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại , với cách tiế p câ ̣n khác nhau , các tác giả đã đƣa ra các khái niệm khác nhau về dải ven biển và các phƣơng pháp khác nhau để xác định ranh giới dải ven biể n. Trong đó , phầ n lớn viê ̣c phân đinh ̣ ranh giới c ủa dải ven biển dựa trên các căn cƣ́ về tƣ̣ nhiên. Riêng mô ̣t số nghiên cƣ́u về kinh tế xã hô ̣i la ̣i thiên về viê ̣c phân đinh ̣ theo ranh giới hành chiń h. Theo tôi , viê ̣c phân đinh ̣ ranh giới dải ven biể n nhằ m mu ̣c đích xây dƣ̣ng các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho một khu vực lãnh thổ đặc thù này cần đƣợc xem xét trong mối quan hệ thống nhất giữa các yếu tố về tƣ̣ nhiên sinh thái với các yế u tố về xã hô ̣i nhân văn và phát triể n kinh tế xã hô ̣i của khu vực này.
Đặc tính chung của đới bờ * Khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển Trên bề mặt Trái Đất, 2/3 là biển và đại dƣơng, chỉ có 1/3 là lục địa. Khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển gọi là đới bờ (coastal) - nơi gặp gỡ của các quyển: khí quyển, thủy quyển, thạch quyển và sinh quyển. Một cách đơn giản có thể mô tả vị trí chuyển tiếp của đới bờ so với vùng lục địa và biển lân cận qua sơ đồ hình 1.2: Vị trí chuyển tiếp của đới bờ Do vị trí chuyển tiếp, nên đới bờ chịu sự tác động tƣơng hỗ của 4 quyển và hình thành ở đây đặc tính hỗn tạp cả về mặt môi trƣờng tự nhiên, sinh thái tài nguyên- là kết quả của quá trình tƣơng tác. Chính quá tình này đã tạo ra thang bậc của các tham số môi trƣờng tự nhiên theo cấu trúc ngang bờ.
Các thang bậc này kéo theo sự hình thành các diễn thế sinh thái với sự xuất hiện của các loài khác nhau. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Một hệ tự nhiên có quy mô hành tinh Trên bình diện toàn cầu, đới bờ đƣợc xem là một hệ tự nhiên trong hệ trái đất. Nói cách khác đó là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh, độc lập và ngang cấp với lục địa và biển/ đại dƣơng. Nó đặc trƣng bởi sự phát sinh- phát triển, tiến hóa- suy tàn, vận động theo quy luật tiến hóa của tự nhiên.
Đới bờ tồn tại độc lập nhờ các quá trình tƣơng tác, ràng buộc lẫn nhau trong nội bộ hệ và phát triển nhờ các mối quan hệ tƣơng tác giữa hệ với các hệ khác xung quanh. Phá vỡ tính hoàn chỉnh của các mối quan hệ hữu cơ đó sẽ dễ làm tổn thƣơng hệ và gây ra các sự cố sinh thái- môi trƣờng. * Một đới động lực và tương tác Đới bờ là một hệ cân bằng động, thƣờng xuyên biến đổi theo quy mô thời gian khác nhau: từ những biến động chu kỳ ngắn (chu kỳ triều, vài tuần hoặc tháng) đến dài (trên nghìn năm). Nơi đây luôn xảy ra các hoạt động tƣơng tác giữa quá trình lục địa (sông) và biển (sóng, dòng chảy, thủy triều) giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh.
Các hoạt động tƣơng tác nhƣ vậy biểu hiện rất khác nhau về mức độ và xu thế ở những khu vực khác nhau của đới bờ. Điều này sẽ quyết định xu thế tiến hóa khác nhau ở các khu bờ biển cụ thể. Trong phạm vi đới bờ có sự trao đổi rõ rệt giữa nƣớc ngọt (bề mặt/ nƣớc ngầm) với nƣớc mặn và giữa các khối nƣớc nhạt ven bờ với khối nƣớc mặn thềm lục địa.