MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Trong điều kiện thực tế nước ta chỉ có một phần tư diện tích tự nhiên là đồng bằng còn lại là đồi núi, do vậy quỹ đất đai của nước ta nhìn chung là hạn hẹp. Tuy nhiên nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, điều này đã tạo sức ép rất lớn đối với công tác quản lý sử dụng đất đai cả ở cấp vĩ mô và ở cấp vi mô. Để quản lý đất đai có hiệu quả thì hệ thống hồ sơ địa chính có một vai trò hết sức quan trọng vì đây là cơ sở pháp lý để thực hiện các công tác quản lý Nhà nước về đất đai như: đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất.
đăng ký biến động, quy hoạch sử dụng đất chi tiết,. Tầm quan trọng của hồ sơ địa chính đã được khẳng định. Tuy nhiên thực trạng xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính của nước ta nói chung và của huyện Ngân Sơn nói riêng vẫn còn nhiều khó khăn và bất cập cần giải quyết. Nhưng huyện Ngân Sơn cho đến nay đã được sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh nên 2012 đã đo đạc bản đồ địa chính chính quy 100% nên việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có nhiều thuận lợi hơn.
Tuy nhiên Bản đồ địa chính đất ở dân cư, đất sản xuất nông nghiệp nói chung chủ yếu được cấp theo bản đồ giải thửa đo vẽ đã lâu, không chỉnh lý biến động thường xuyên. Trong những năm qua tốc độ đô thị hoá cao, các xã và thị trấn đều đã được mở rộng và quy hoạch xây dựng lại, hệ thống giao thông đô thị, đất đai biến động lớn (Mức độ biến động khoảng 50%) do đó hồ sơ địa chính đã có không phù hợp với hiện trạng quản lý đất đai hiện nay. Khu vực đất ở, đất sản xuất nông nghiệp của huyện và hệ thống bản đồ giải thửa lập theo hệ toạ độ độc lập, công nghệ đo vẽ thủ công, hồ sơ địa chính thiết lập chắp vá thiếu đồng bộ, số liệu thiếu tin cậy do đó không đáp ứng yêu cầu công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Yêu cầu bức thiết phải xây dựng hệ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 2 thống hồ sơ địa chính 10 xã và 01 thị trấn, một cách đồng bộ khoa học và thống nhất, đáp ứng công tác quản lý đất đai theo đúng pháp luật đồng thời phù hợp với đặc điểm quản lý đất đai ở địa phương.
Nà Phặc có nhiều lợi thế về tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng. và kinh tế nông lâm nghiệp đang đóng vai trò chủ đạo trong cơ cấu nền kinh tế. Hiện nay tỉnh đã có chủ trương đầu tư về lĩnh vực quản lý đất đai cho thị trấn Nà Phặc trên các lĩnh vực như: quy hoạch sử dụng đất, đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đưa hệ thống quản lý hồ sơ địa chính từ quản lý bằng giấy sang hệ thống quản lý bằng máy tính.
Với mong muốn góp phần giải quyết vấn đề khó khăn nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính số cho thị trấn Nà Phặc - huyện Ngân Sơn - Tỉnh Bắc Kạn”. Mục đích nghiên cứu * Mục tiêu tổng quát: Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu địa chính cho thị trấn Nà Phặc nhằm góp phần nâng cao công tác quản lý đât đai cho tỉnh Bắc Kạn nói chung và thị trấn Nà Phặc nói riêng Mục tiêu cụ thể + Thành lập dữ liệu không gian ( DL bản đồ ). + Xây dựng cơ sở dữ liệu thuộc tính. + Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính số.
Yêu cầu của đề tài - Việc xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác sử dụng dữ liệu địa chính phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, khách quan, thống nhất và thực hiện theo quy định hiện hành về lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. - Cơ sở dữ liệu địa chính phải được xây dựng theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 3 - Thông tin đất đai được sử dụng trong công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập quy hoạch sử dụng đất,. - Là nguồn số liệu cơ bản để quản lý sử dụng đất đai hiệu quả.
Ý nghĩa khoa học của đề tài - Xây dựng được cơ sở dữ liệu đất đai là cơ sở để thực hiện việc quản lý nhà nước về đất đai như: đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất, đăng ký biến động, quy hoạch sử dụng đất chi tiết,. - Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu địa chính số đồng bộ dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin, chỉnh lý cập nhật biến động thường xuyên bằng phần mềm TMV. - Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu địa chính số là một công cụ quan trọng, trợ giúp quản lý Nhà nước về đất đai và các ngành có liên quan tới đất đai. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Cơ sở dữ liệu địa chính 1 Cơ sử dữ liệu địa chính là hồ sơ địa chính được quản lý dưới dạng số sử dụng các phần mền chuyên môn như GIS, MICROSTATION, TMV.CSDL địa ch , các nhà khoa học luôn luôn cố gắng tìm cách khái quát hoá các mô hình quản lý đất đai, từ đó đưa ra một chuẩn mẫu về quản lý đất đai. Năm 1994, H quan đến hồ sơ địa chính và đăng ký đất đai. chính có tên là CCDM (Core Cadastral Domain Model) (hình 1.Mô hình hạt nhân trong lĩnh vực địa chính, CCDM Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Mô hình này thể hiện mối quan hệ của con người (lớp Person) đối với thửa đất (lớp Register Object) thông qua các quyền, trách nhiệm và giới hạn sử dụng đất (lớp RRR – Right, Responsibility, Restriction). Đối tượng đăng ký có thể là thửa đất hay bất động sản gắn liền với đất; con người là những người sử dụng, người sở hữu bất động sản; quyền là quyền sử dụng đất và các quyền có liên quan.
CCDM đã trở thành mô hình dữ liệu chuẩn để phát triển, chỉnh sửa cho phù hợp với hệ thống quản lý đất đai ở nhiều nước trên thế giới. Từ mô hình này, năm 2008, hiệp hội FIG và các nhà khoa học tiếp tục phát triển thành mô hình địa chính LADM (Land Administration Domain Model) và được nhiều nước trên thế giới áp dụng như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Nhật,… LADM là một mô hình chuẩn hóa trong lĩnh vực đăng kí đất đai và hồ sơ địa chính. Về bản chất, mô hình LADM cũng vẫn thể hiện mối quan hệ giống như CCDM. Tuy nhiên, các khái niệm về lớp đối tượng có sự mở rộng hơn.
Đó là mối quan hệ giữa con người (lớp LA_Party) với đơn vị hành chính cơ bản (lớp LA_BAUnit) thông qua quyền, trách nhiệm và giới hạn sử dụng (lớp LA_RRR). Mô hình địa chính LADM Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Trên thực tế, mô hình LADM có rất nhiều lớp và phức tạp hơn rất nhiều. Tuy nhiên hạt nhân của mô hình dựa trên 4 lớp cơ bản: - Lớp LA_Party: là những cá nhân, tổ chức hoặc nhóm người đóng vai trò trong việc thực hiện, giải quyết các quyền. - Lớp LA_RRR: là các quyền, hạn chế hoặc trách nhiệm.
Ví dụ như không cho phép xây dựng trong phạm vi 200 m từ trạm nhiên liệu. Các đơn vị không gian này có thể được thể hiện bằng dạng chữ, điểm, đường, vùng trong không gian 2D, 3D hoặc kết hợp cả hai. - Lớp LA_BAUnit: là đơn vị hành ch. Đây là những lớp cơ bản của mô hình LADM, ngoài ra nó có thể được phát triển hoặc thêm các lớp khác.
Bởi vì, mặc dù, LADM là một mô hình hạt nhân trong lĩnh vực địa chính nhưng LADM không được mong đợi để xây dựng hoàn toàn như trên cho bất cứ quốc gia nào mà mô hình sẽ được mở rộng và bổ sung thêm các thuộc tính, sự liên kết mới hoặc có thể là một lớp mới hoàn toàn nhưng nó phù hợp đặc điểm sử dụng đất và cần thiết cho một vùng và quốc gia đó. Mô hình Social Tenure Domain Model (STDM) được phát triển dựa trên mô hình LADM là một sáng kiến của UN-Habitat (năm 2009) nhằm hỗ trợ các nước mà trình độ quản lý đất đai còn yếu kém. Mối quan hệ giữa con người (Lớp Party) với các đơn vị không gian (Lớp Spatial Unit) trong mô hình STDM được hiểu là mối quan hệ xã hội – Social Tenure Relationship (Lớp Social Tenure). Mô hình này phù hợp với các nước có nhiều khu nhà ổ chuột, mức độ thông tin về địa chính ít, nhiều diện tích đất dựa vào phong tục, tập quán hơn là luật ở những khu vực nông thôn,… (Hình 1.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Mô hình địa chính STDM của UN-Habitat, năm 2009 Vì vậy, LADM là một mô hình rất linh hoạt. Do đó, phải căn cứ vào điều kiện và đặc điểm của mỗi nước để xây dựng mô hình CSDL địa chính phù hợp và có hiệu quả nhất cho quốc gia đó. Một ý tưởng nữa của LADM là sử dụng CSDL thời gian trong thuộc tính của các đối tượng để quản lý thông tin về quá khứ của các đối tượng.
Đối với mô hình CSDL địa chính, CSDL thời gian cho phép lưu trữ các trạng thái quá khứ của thửa đất và các đăng ký quyền sử dụng đất. Trong LADM, các đối tượng mà có thuộc tính tmin (được hiểu là thời gian bắt đầu) và tmax (được hiểu là thời gian kết thúc) thì đều nằm trong lớp Versioned Objects nhằm mô tả dữ liệu quá khứ hay lịch sử của đối tượng. Thời gian bắt đầu được hiểu là thời điểm xuất hiện đối tượng đó theo pháp lý, còn thời gian kết thúc là thời điểm đối tượng đó không tồn tại theo pháp lý. Như vậy, mỗi trạng thái của đối tượng được ghi nhận bởi 2 thông tin của thời gian.
Đặc điểm này nhằm mục đích quản lý biến động được dễ dàng hơn, đặc biệt phù hợp với những quận, huyện có biến động lớn và tốc độ đô thị hóa mạnh như huyện Ba Vì. Ví dụ, trong CSDL thửa đất có các dòng dữ liệu như bảng 1.1 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.