Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu. Chương 3: Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường thành phố Đà Lạt. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các nghiên cứu địa lý nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng 1.1 Trên thế giới Hiện nay, nghiên cứu về địa lý học trong việc quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn.
Trên thế giới, hướng nghiên cứu địa lý cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã được tiến hành từ cuối thế kỷ XIX với những công trình nghiên cứu đầu tiên của nhà khoa học người Nga V.Docutraev về các đới tự nhiên và áp dụng vào nghiên cứu tài nguyên môi trường của các địa phương cụ thể. Sau đó, hàng loạt những công trình nghiên cứu khoa học về sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường theo hướng tiếp cận địa lý của các nhà địa lý Xô Viết như S.Grigoriev ra đời. Các nghiên cứu như: Địa lý tự nhiên ứng dụng của Shixenko P.Ixatsenko với các nghiên cứu về cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên, 1969 [1]; Cảnh quan học ứng dụng, 1985 [2]. Các nghiên cứu của Schaepfer và nnk (2002), Marcucci J.
đã chỉ ra hướng xác lập cơ sở địa lý và cảnh quan cho sử dụng hợp lý TNTN và BVMT là rất phù hợp và cần thiết. Ngoài ra, không thể không kể đến các nghiên cứu của các nhà địa lý Ucraina, Bungari, Đức. đã hoàn thiện thêm về địa lý ứng dụng trong thực tiễn. Quan điểm địa lý học cũng được vận dụng triệt để trong việc quy hoạch môi trường, giúp định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong tác phẩm Integrated Environmental Planning của James K.
Sự phân chia lãnh thổ phục vụ công tác quản lý môi trường cũng được các nhà địa lý trên thế giới tiến hành nghiên cứu từ đầu thế kỷ XIX. Acxenhev (năm 1818) đã chia lãnh thổ nước Nga thành 10 khu vực dựa trên sự giống nhau về mặt khí hậu, địa chất, sản phẩm tự nhiên và các hoạt động xã hội. Đến giai đoạn những năm 50 - 80 của thế kỷ XIX, phân vùng tự nhiên đã có những bước phát triển 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vượt bậc, nhiều quan niệm địa lý mới xuất hiện. Trauthete đã công bố công trình phân vùng địa lý thực vật nước Nga đầu tiên.
Tiếp sau đó là hành loạt các công trình về phân vùng địa lý động vật, phân vùng khí hậu. Trong lịch sử phân vùng, không thể không nhắc đến công trình phân vùng địa lý tự nhiên nước Nga của G. Tangphilep (1987) khi ông sử dụng các chỉ tiêu về địa chất, thổ nhưỡng và lớp phủ thực vật, tính chất nước ngầm, sự phân bố các đầm lầy để phân vùng nước Nga theo hệ thống phân vị 3 bậc: miền, dải (đới) và khối. Krube đã kế thừa những nghiên cứu của Tangphilep và đưa ra sơ đồ phân vùng địa lý tự nhiên nước Nga cũng theo hệ thống phân vị 3 bậc nhưng trên đó thể hiện được các đặc điểm của địa hình và kiến trúc địa chất.
Đến năm 1913, lần đầu tiên quy luật địa đới được L. Becgo áp dụng vào phân vùng địa lý tự nhiên toàn nước Nga, ông gọi công trình này là phân vùng địa lý cảnh quan. Hệ thống phân vùng địa lý cảnh quan được L. Becgo phân chia thành các đới: 1.
Đới đài nguyên; 2. Đới taiga đồng bằng; 3. Đới thảo nguyên rừng; 4. Đới thảo nguyên đất đen; 5.
Đới thảo nguyên khô đất hạt giẻ; 6. Đới bán sa mạc; 7. Đới sa mạc; 8. Đới đất thấp cận Amua và cận Utxuri.
Năm 1948, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đã công bố một cố công trình về phân vùng: phân vùng địa mạo, phân vùng thủy văn, phân vùng địa thực vật. Trải qua một thời gian dài nghiên cứu về phân vùng, đến năm 1956 các nhà nghiên cứu địa lý Liên Xô đã xây dựng được hệ thống các đơn vị phân vị của phân vùng, các nguyên tắc và phương pháp phân vùng địa lý tự nhiên thống nhất. Ở Đức, Ba Lan và một số nước khác khoa học về các thể tổng hợp địa lý tự nhiên đã được quan tâm nghiên cứu.Kondracki đã xây dựng được bản đồ các cảnh địa lý của Ba Lan.2 Ở Việt Nam Trong vài thập niên gần đây, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về địa lý tổng hợp, phân vùng địa lý tự nhiên cho việc sử dụng hợp lý Tài nguyên và bảo vệ Môi trường. Từ năm 1963, lãnh thổ miền Bắc Việt Nam đã được tiến hành nghiên cứu về vấn đề phân vùng và sơ đồ phân vùng địa lý tự nhiên đầu tiên 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tại Việt Nam được hình thành bởi tổ phân vùng địa lý tự nhiên Việt Nam và sự giúp đỡ của 2 nhà địa lý Liên Xô.
Đến năm 1970, công trình phân vùng địa lý tự nhiên cho toàn lãnh thổ Việt Nam đã ra đời với hệ thống phân vị gồm 8 cấp: á đại lục - xứ - đới - á đới - miền - á miền - vùng - á vùng. Kế thừa những nghiên cứu phân vùng tự nhiên trên thế giới và nền tảng phân vùng địa lý đầu tiên tại Việt Nam, năm 1972 tác giả Trần Quang Ngãi đã phân vùng lãnh thổ Việt Nam thành 5 miền dựa trên đặc điểm về cấu trúc địa chất: miền Đông Bắc, miền Tây Bắc, miền Trường Sơn Bắc, miền Trường Sơn Nam và miền Nam Bộ. Trong tác phẩm “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” năm 1976 [10], Vũ Tự Lập đã trình bày về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu địa lý tổng hợp nhằm mục đích sử dụng hợp lý lãnh thổ và bảo vệ môi trường. Đồng thời, năm 1978, Vũ Tự Lập cũng đã tiến hành phân vùng lãnh thổ Việt Nam thành 3 miền trên cơ sở cảnh quan: Miền Bắc và Đông Bắc, miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Cũng dựa trên cơ sở cảnh quan, cụ thể là bản đồ cảnh quan sinh thái Việt Nam tỷ lệ 1:1.000, các tác giả phòng Địa lý Thổ nhưỡng, Trung tâm Địa lý Tài nguyên (1992) đã chia lãnh thổ Việt Nam thành 9 miền địa lý tự nhiên theo các đơn vị địa hình cấu trúc và theo độ cao địa hình. Nhìn chung, các nghiên cứu về phân vùng địa lý phục vụ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo mệ môi trường chủ yếu dựa dữ liệu nghiên cứu về điều kiện tự nhiên mà chưa đánh giá được tác động nhân sinh vì vậy còn gặp rất nhiều hạn chế. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên, phân vùng địa lý tự nhiên và bảo vệ môi trường đã được nghiên cứu gắn với con người, mang lại những giá trị nhất định phù hợp với thực tế khách quan và đáp ứng cho mục tiêu phát triển bền vững. Năm 1997, trong “Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam”, các tác giả Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh đã đề cập đến những biến đổi của tự nhiên dưới tác động của con người và đưa ra các giải pháp để sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiếp sau đó là các tác phẩm như: Nghiên cứu địa lý tổng hợp ứng dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (Nguyễn Cao Huần. Hoàng Danh Sơn, và nnk 2004, 2006) [8]; Nghiên cứu ứng dụng cảnh quan trong lập quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch bảo vệ Môi trường (Phạm Quang Anh 1996, 2002; Nguyễn Cao Huần, 2002, 2004, 2005; James K.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu tại Đà Lạt Số lượng các công trình nghiên cứu về Đà Lạt khá nhiều, đây là những hệ thống tư liệu rất quan trọng để học viên hình thành cơ sở dữ liệu cho hướng nghiên cứu của mình. Các công trình nghiên cứu về địa chất - địa mạo Các công trình nghiên cứu về địa chất - địa mạo trong khu vực nghiên cứu như: Từ năm 1988 - 2005, nghiên cứu cấu trúc địa chất cao nguyên Đà Lạt, thành lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 do các nhà địa chất thuộc Liên Đoàn Bản Đồ Địa chất Miền Nam thực hiện [11], các nhóm tờ Đà Lạt cho Nguyễn Văn Cường chủ biên (1986-1992) [6] đã phân tích được cấu trúc địa nền địa chất và các hoạt động kiến tạo diễn ra trong khu vực. Điều tra được số lượng và trữ lượng các loại khoáng sản.
Năm 1996, Đề án “Điều tra địa chất đô thị Đà Lạt năm 1996, thành lập bản đồ địa chất thủy văn thành phố Đà Lạt tỷ lệ 1:25.000” làm sáng tỏ đặc điểm địa chất thủy văn, phát hiện ra các tầng chứa nước và đánh giá được trữ lượng nước ngầm trong khu vực nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu về khí hậu - thủy văn Phạm Trọng Nhân (2003), Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu đến sinh trưởng của thông ba lá (Pinus kesya) tại Đà Lạt [14], đã tìm hiểu được sự liên quan giữa khí hậu Đà Lạt và sự chuyển đổi các hình thức sử dụng đất tại đây và cho rằng sự thay đổi của che phủ đất có ảnh hưởng quan trọng đến sự thay đổi của tiểu vùng khí hậu Đà Lạt. Nguyễn Văn Thêm, năm 2003 với tác phẩm “Khôi phục nhiệt độ và lượng mưa ở Đà Lạt dựa trên thông tin khí hậu từ các vòng năm của Thông ba lá” [26] và năm 2004 là nghiên cứu “Phản ứng của Thông ba lá đối với biến động của các yếu tố khí hậu ở Đà Lạt” đã chứng tỏ rằng chuỗi bề rộng vòng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm và chuỗi chỉ số bề rộng vòng năm của Thông ba lá có hiện tượng tự tương quan và tính nhạy cảm rất cao đối với những vùng khí hậu khác nhau. Năm 2009 sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng đã triển khai “Xây dựng kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Lâm Đồng” và ngay sau đó, năm 2012 Chi cục Thủy lợi Lâm Đồng cũng tiến hành “Chương trình hành động phòng chống khô hạn và sa mạc hóa tỉnh Lâm Đồng”.