Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu dải bờ biển dài hơn 3.200 km với nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đóng vai trò đầu tàu trong chiến lược phát triển kinh tế biển quốc gia. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của các hoạt động nhân sinh cùng tác động của biến đổi khí hậu đang tạo ra sức ép nặng nề lên quỹ đất đới bờ. Tại tỉnh Bình Định, huyện Phù Mỹ có tổng diện tích tự nhiên 550 km2, dân số khoảng 173.000 người với mật độ 312 người/km2, sở hữu đường bờ biển dài 32 km cùng hai hệ sinh thái đầm phá quan trọng là đầm Trà Ổ và đầm Đề Gi. Dải ven biển của huyện, đặc biệt là khu vực 4 xã Mỹ Thành, Mỹ An, Mỹ Thọ và Mỹ Thắng, là địa bàn diễn ra nhiều hoạt động kinh tế sôi động nhưng cũng đối mặt với nguy cơ suy thoái môi trường nghiêm trọng.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi nảy sinh từ các mâu thuẫn gay gắt trong cấu trúc sử dụng đất: phong trào nuôi tôm trên cát phát triển ồ ạt phá vỡ quy hoạch, hoạt động khai thác sa khoáng titan với hàm lượng ilmenit từ 110 đến 2.630 kg/m3 làm tàn phá thảm rừng phòng hộ ven biển, hạ thấp mực nước ngầm và gia tăng nguy cơ sa mạc hóa cát di động. Mục tiêu của nghiên cứu là làm rõ các đặc trưng địa lý tự nhiên, địa mạo, thổ nhưỡng và kinh tế xã hội tại 4 xã ven biển nói trên, từ đó xác lập cơ sở khoa học để phân vùng chức năng cảnh quan và định hướng không gian quản lý đất đai bền vững. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giải quyết xung đột môi trường, hướng tới mục tiêu bảo vệ hơn 2.000 ha rừng phòng hộ và cân bằng sinh thái cho toàn bộ dải ven bờ đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên của các nhà địa lý học kinh điển như Grigoriev và Kalesnik, kết hợp quan điểm hệ thống - tổng hợp của Bertalanffy. Khung lý thuyết này khẳng định mỗi thể tổng hợp lãnh thổ là một chỉnh thể hoàn chỉnh gồm các thành phần địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng và sinh vật tác động qua lại chặt chẽ theo những quy luật phát sinh xác định. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết Quản lý tổng hợp đới bờ (Integrated Coastal Zone Management - ICZM) theo định hướng của Hội nghị Thượng đỉnh Rio 1992 và khuyến nghị của Cicin-Sain (1993), kết hợp khung 7 nguyên tắc quản lý đất đai bền vững do Ngân hàng Thế giới (World Bank) ban hành năm 2010.

Các khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt bao gồm: Đới bờ ven biển (khu vực chuyển tiếp tương tác giữa lục địa và đại dương), Quản lý đất đai bền vững (quy trình dựa trên tri thức nhằm tối ưu hóa chức năng sản xuất, dịch vụ hệ sinh thái và sinh kế cộng đồng), Phân vùng địa lý tự nhiên (phương pháp chia tách lãnh thổ thành các đơn vị đồng nhất tương đối về tiềm năng sinh thái), và Sức tải môi trường cảnh quan. Các khung lý thuyết này đảm bảo tính tương thích với bối cảnh dải bờ biển tỉnh Bình Định dài 134 km và vùng lãnh hải rộng 2.500 km2.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa dạng bao gồm: hệ thống bản đồ chuyên đề tỷ lệ 1:25.000 (địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng, hiện trạng sử dụng đất), mô hình số độ cao DEM Aster 30m, niên giám thống kê huyện Phù Mỹ, cùng các báo cáo chuyên ngành từ Bộ Tài nguyên và Môi trường. Dữ liệu thực địa được thu thập qua đợt khảo sát chi tiết từ ngày 09/07/2017 đến ngày 13/07/2017 theo 3 tuyến lộ trình cắt ngang không gian lãnh thổ: tuyến ven vịnh Nước Ngọt qua đồi cát Mỹ Thành, tuyến dọc trục tỉnh lộ ven biển qua 4 xã, và tuyến khảo sát vành đai đầm Trà Ổ với hơn 20 điểm đo đạc mặt cắt trắc diện.

Phương pháp chọn mẫu khảo sát được thực hiện theo nguyên tắc mẫu lát cắt cảnh quan điển hình đại diện cho các bậc địa hình từ tây sang đông. Phương pháp phân tích liên kết các thành phần tự nhiên (chồng xếp bản đồ GIS đa lớp) được lựa chọn làm công cụ chủ đạo vì cho phép bóc tách chính xác các ranh giới tự nhiên khách quan, tích hợp 17 phân vị địa tầng Đệ tứ có chiều dày biến đổi tới 71,5 m và 5 nhóm đất chính. Quy trình phân tích kết hợp viễn thám và xử lý ma trận không gian giúp loại bỏ các đánh giá cảm tính, cung cấp cơ sở dữ liệu số hóa tin cậy cho hoạch định chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, điều kiện địa mạo và địa tầng khu vực nghiên cứu có sự phân hóa không gian vô cùng sâu sắc, tạo tiền đề hình thành 7 tiểu vùng địa lý tự nhiên riêng biệt. Độ cao địa hình thay đổi đột ngột từ các khối núi xâm nhập phía tây cao 450 - 650 m xuống vùng đồng bằng tích tụ cao 6 - 20 m và dải cồn cát chắn bờ cao 20 - 30 m. Trầm tích cát biển - gió chiếm ưu thế với tỷ lệ hạt thạch anh đạt 80 - 85%, tạo nên các dải cồn cát di động và cố định rộng từ 100 m đến 2.000 m chạy song song đường bờ biển.

Thứ hai, nghiên cứu phát hiện các xung đột môi trường đặc biệt nghiêm trọng do hoạt động khai thác sa khoáng titan. Trầm tích cồn cát chứa hàm lượng ilmenit công nghiệp từ 110 đến 2.630 kg/m3 đã thúc đẩy các doanh nghiệp bạt đồi cát, triệt hạ rừng phi lao phòng hộ ven biển tại xã Mỹ Thành và Mỹ An. Hoạt động này làm suy giảm tầng chứa nước ngọt ven biển, gia tăng nguy cơ cát bay, cát chảy lấn chiếm đồng ruộng và khu dân cư.

Thứ ba, sự bùng nổ của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát tại các xã Mỹ Thắng, Mỹ An dọc trục ven biển dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm và biến đổi hệ sinh thái đầm phá. Lượng nước thải hữu cơ chưa qua xử lý xả trực tiếp ra đầm Đề Gi và đầm Trà Ổ làm suy thoái thảm rừng ngập mặn còn sót lại. Chế độ thủy văn ven bờ với độ mặn biến động mạnh từ 23‰ trong mùa mưa lên 33,5‰ trong mùa khô cùng 18 - 22 ngày nhật triều mỗi tháng càng làm trầm trọng thêm mức độ phân tán ô nhiễm.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét tương quan giữa các hợp phần tự nhiên, dữ liệu địa lý có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng ma trận xung đột mục đích sử dụng đất và biểu đồ phân bố trắc diện địa hình - thổ nhưỡng. Biểu đồ mặt cắt từ tây sang đông minh họa rõ sự chuyển tiếp từ nhóm đất vàng đỏ trên đá granite (vùng núi bóc mòn) sang nhóm đất phù sa và đất xám bạc màu (đồng bằng), tiếp nối bởi nhóm đất mặn ven đầm và nhóm đất cát ven biển. Sự phân bố này cho thấy khả năng dung nạp môi trường của dải cồn cát là cực kỳ hạn chế trước các tác động công nghiệp nặng và khai khoáng.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại dải cồn cát ven biển huyện Bố Trạch (Quảng Bình) hay huyện Bắc Bình (Bình Thuận), dải ven biển Phù Mỹ có tính tổn thương sinh thái cao hơn do lượng mưa hàng năm lên tới 1.891 mm nhưng tập trung tới 75 - 80% vào các tháng 9 đến tháng 12. Điều này giải thích vì sao khi lớp phủ thực vật trên cồn cát bị phá hủy để khai thác titan hoặc đào ao nuôi tôm, hiện tượng xói lở bề mặt và rửa trôi đất trong mùa lũ diễn ra nhanh hơn gấp nhiều lần so với các vùng duyên hải khô hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết lập và cắm mốc ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển với chiều rộng tối thiểu 100 - 200 m tính từ mép nước biển triều cao nhất dọc theo 32 km bờ biển của 4 xã. Mục tiêu cụ thể là phục hồi 100% diện tích rừng phòng hộ chắn sóng, chắn cát trên dải cồn cát Mỹ Thắng - Mỹ Thành và tái sinh tối thiểu 50 ha rừng ngập mặn đầm Đề Gi trước năm 2025. Cơ quan chủ trì thực hiện là Ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định.

Thứ hai, đóng cửa và thu hồi giấy phép toàn bộ các điểm khai thác khoáng sản sa khoáng titan phân tán trên các đụn cát cố định tại xã Mỹ Thành và Mỹ An. Yêu cầu 100% doanh nghiệp đã khai thác phải thực hiện hoàn nguyên môi trường, san lấp moong khai thác và trồng lại thảm thực vật che phủ đạt tỷ lệ trên 70% diện tích trước năm 2023 dưới sự giám sát nghiêm ngặt của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định.

Thứ ba, quy hoạch chuyển đổi mô hình nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghệ cao khép kín, chấm dứt việc tự ý đào ao nuôi tôm trên đất cát lâm nghiệp. Đặt mục tiêu giảm 80% lượng nước thải xả trực tiếp ra hệ sinh thái đầm Trà Ổ và đầm Đề Gi vào năm 2024, kiểm soát độ mặn của nguồn nước ngầm ổn định dưới ngưỡng 1‰ nhằm bảo vệ nguồn nước sinh hoạt cho cư dân ven biển. Trách nhiệm triển khai thuộc về Phòng Tài nguyên và Môi trường kết hợp Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Phù Mỹ.

Thứ tư, tích hợp bản đồ phân vùng địa lý tự nhiên tỷ lệ 1:25.000 vào quy hoạch sử dụng đất cấp huyện giai đoạn 2021 - 2030. Cơ quan quản lý cần phân định rõ chức năng cho 7 tiểu vùng sinh thái: bảo tồn cảnh quan núi Mũi Bằng, phát triển nông nghiệp thâm canh vùng đồng bằng phù sa, và đẩy mạnh du lịch sinh thái tại khu vực mũi Vi Rồng. Chủ thể tổ chức thực hiện là Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định và các ban ngành cấp huyện liên quan.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bình Định cùng Phòng TN&MT huyện Phù Mỹ: Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học và bản đồ phân vùng chức năng để phục vụ trực tiếp công tác lập quy hoạch sử dụng đất, thẩm định dự án đầu tư ven biển và thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển theo Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo 2015.

Nhóm các nhà nghiên cứu, chuyên gia địa lý học, cảnh quan học và môi trường biển: Luận văn cung cấp khung phương pháp luận kết hợp giữa lý thuyết địa tổng thể và công cụ GIS viễn thám, đồng thời cung cấp bộ dữ liệu chi tiết về 17 phân vị địa tầng và động lực trầm tích đới bờ khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ.

Nhóm doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, khai khoáng sa khoáng và du lịch sinh thái: Nắm vững các giới hạn sinh thái, đặc tính địa tầng và quy chuẩn môi trường tại 4 xã ven biển Phù Mỹ để xây dựng phương án kinh doanh bền vững, chủ động các giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến tài nguyên nước và thảm thực vật.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường, Quản lý đất đai, Địa lý tự nhiên: Sử dụng luận văn làm tài liệu học thuật mẫu mực trong việc cấu trúc một công trình nghiên cứu ứng dụng thực địa, từ phương pháp lấy mẫu lát cắt đến kỹ thuật biên tập bản đồ chuyên đề.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao huyện Phù Mỹ cần phân vùng địa lý tự nhiên riêng biệt cho dải ven biển? Dải ven bờ 4 xã của Phù Mỹ dài 32 km có cấu trúc địa mạo vô cùng phức tạp với sự đan xen giữa núi bóc mòn cao hơn 400 m, cồn cát cao 20 - 30 m và hai đầm phá lớn. Việc phân vùng giúp xác định chính xác sức tải sinh thái của từng khoảnh đất, ngăn ngừa nguy cơ xung đột giữa các ngành kinh tế trên nền tài nguyên hạn hẹp.

Hoạt động khai thác sa khoáng titan gây tác động tiêu cực cụ thể nào đến tài nguyên đất cát? Khai thác titan với hàm lượng ilmenit từ 110 đến 2.630 kg/m3 đòi hỏi phải bóc tách hoàn toàn lớp phủ thực vật và sử dụng lượng lớn nước ngọt để tuyển quặng. Điều này phá hủy cấu trúc cồn cát cố định, làm tụt mực nước ngầm từ 2 đến 4 m, gây ra hiện tượng cát bay vùi lấp đồng ruộng và làm mặn hóa tầng chứa nước lân cận.

Mô hình nuôi tôm trên cát tại 4 xã ven biển Phù Mỹ đang đối mặt với thách thức gì? Nuôi tôm tự phát với mật độ cao tạo ra lượng nước thải chứa bùn hữu cơ và hóa chất vượt ngưỡng cho phép, xả thẳng ra đầm Đề Gi và bãi biển. Do biên độ triều tại đây chỉ đạt 1 - 2 m và lượng bốc hơi lên tới 1.000 mm/năm, chất ô nhiễm không được pha loãng kịp thời, gây suy thoái hệ sinh thái đáy và bùng phát dịch bệnh thủy sản.

Cơ sở pháp lý nào làm nền tảng cho việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tại Phù Mỹ? Luận văn căn cứ vào Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo năm 2015 số 82/2015/QH13, Luật Đất đai năm 2013, cùng Quyết định số 158/2007/QĐ-TTg và Quyết định số 2295/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 để đưa ra các đề xuất hành lang bảo vệ.

Luận văn đã phân chia không gian dải ven biển Phù Mỹ thành bao nhiêu tiểu vùng sinh thái? Nghiên cứu đã phân chia không gian 4 xã ven biển thành 7 tiểu vùng sinh thái chức năng riêng biệt: Tiểu vùng núi Mũi Bằng, Tiểu vùng sườn đồi Hóc Nhạn, Tiểu vùng đồng bằng ven biển Phù Mỹ, Tiểu vùng đầm lầy Trà Ổ, Tiểu vùng đầm lầy Đề Gi, Tiểu vùng cồn cát Mỹ Thắng - Mỹ Thành, và Tiểu vùng bãi biển mũi Vi Rồng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ toàn diện cơ sở địa lý tự nhiên, địa chất trầm tích và kinh tế xã hội tại dải ven biển 4 xã trọng điểm huyện Phù Mỹ.
  • Nhận diện và phân tích sâu sắc các điểm nóng xung đột tài nguyên giữa khai thác quặng titan, nuôi tôm trên cát với công tác bảo vệ rừng phòng hộ và an ninh nguồn nước ngọt.
  • Ứng dụng thành công công nghệ GIS và phân tích liên kết cảnh quan để thành lập bản đồ phân vùng địa lý tự nhiên gồm 7 tiểu vùng sinh thái đặc trưng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp không gian đồng bộ nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất, gắn kết phát triển kinh tế biển với bảo vệ môi trường đới bờ.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho công tác điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và triển khai chiến lược quản lý tổng hợp vùng bờ.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp phương pháp luận phân vùng cảnh quan gắn liền với quản lý đất đai bền vững, chuyển hóa các lý thuyết địa lý hàn lâm thành công cụ quản trị thực tế. Trong giai đoạn 2022 - 2025, các cơ quan ban ngành cần nhanh chóng thể chế hóa các phân vùng này vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương. Để tìm hiểu chi tiết về hệ thống bản đồ chuyên đề và giải pháp kỹ thuật, độc giả hãy liên hệ tác giả hoặc cơ sở đào tạo để tiếp cận toàn văn luận văn khoa học này.