Tổng quan nghiên cứu

Quá trình đổi mới kinh tế tại Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội bình quân trên 7%/năm trong giai đoạn 1997–2007, đưa mức thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 800 USD/năm vào năm 2007. Trong cấu trúc tài chính quốc gia, khối ngân hàng thương mại nhà nước đóng vai trò huyết mạch khi nắm giữ tới 76% tổng vốn huy động và 73.5% tổng dư nợ tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng vào năm 2005. Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, mô hình 100% vốn nhà nước tại 5 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn gồm Vietcombank, MHB, Incombank, BIDV và Agribank đã bộc lộ nhiều hạn chế nội tại nghiêm trọng như quy mô vốn tự có mỏng, tỷ lệ nợ xấu tiềm ẩn cao và năng lực quản trị hành chính còn phân tán.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự thiếu hụt một hành lang pháp lý chuyên biệt điều chỉnh hoạt động cổ phần hóa các định chế tài chính quy mô lớn, khi các quy định pháp luật hiện hành về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước bộc lộ nhiều điểm bất cập khi áp dụng vào lĩnh vực ngân hàng. Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận, hệ thống hóa và phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật về cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước, đánh giá việc thực thi thí điểm tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2000–2007. Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn to lớn thông qua việc đề xuất hệ thống giải pháp pháp lý đồng bộ, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu lên trên 8% theo thông lệ quốc tế và bảo toàn hiệu quả nguồn vốn nhà nước sau chuyển đổi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết trung gian tài chính và lý thuyết quản trị công ty hiện đại nhằm giải quyết xung đột đại diện giữa chủ sở hữu nhà nước và người điều hành. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 sửa đổi bổ sung năm 2004, ngân hàng thương mại nhà nước là doanh nghiệp đặc thù kinh doanh tiền tệ, trong đó Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ. Cổ phần hóa ngân hàng được luận giải dựa trên quan điểm kinh điển về sự tiến hóa của sở hữu tư liệu sản xuất, khẳng định bản chất của quá trình này tại Việt Nam là chuyển đổi từ sở hữu đơn nhất sang chế độ đa sở hữu có sự tham gia của người lao động và nhà đầu tư, hoàn toàn phân biệt với tư nhân hóa tuyệt đối.

Khung phân tích tích hợp 4 khái niệm nền tảng: cổ phần hóa ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo chuẩn mực Basel, nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và cơ chế định giá trị vô hình của định chế tài chính. Theo quy định của hệ thống chuẩn mực Basel I, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phải đạt mức 8%, đặt ra yêu cầu pháp lý bắt buộc các ngân hàng phải tăng vốn điều lệ thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng và thu hút cổ đông chiến lược có năng lực tài chính trên 20 tỷ USD.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp phương pháp so sánh luật học, phân tích quy phạm và tổng hợp dữ liệu thống kê thứ cấp. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 5 ngân hàng thương mại nhà nước tại Việt Nam thời điểm khảo sát, trong đó chọn mẫu điển hình chuyên sâu đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long là hai đơn vị thực hiện đề án thí điểm cổ phần hóa đầu tiên theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ hệ thống định chế ngân hàng quốc doanh cho phép luận văn đánh giá chính xác các tác động pháp lý xuyên suốt giai đoạn tái cơ cấu từ năm 2000 đến năm 2007. Phương pháp phân tích luật học so sánh đối chiếu hệ thống quy định tại Nghị định 187/2004/NĐ-CP, Nghị định 109/2007/NĐ-CP và Nghị định 69/2007/NĐ-CP với kinh nghiệm cải cách ngân hàng của Trung Quốc và các nước Đông Âu, từ đó xác lập luận cứ khoa học vững chắc cho việc hoàn thiện khung pháp lý trong nước.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, năng lực tài chính và hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại nhà nước trước cổ phần hóa ở mức rất thấp so với tiêu chuẩn quốc tế. Đến tháng 6/2004, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của Agribank chỉ đạt 6.17%, BIDV đạt 5.25%, Vietcombank đạt 4.70% và Incombank chỉ đạt 4.43%, thấp hơn đáng kể so với mức chuẩn 8% của Basel I. Vốn tự có của toàn bộ 5 ngân hàng quốc doanh năm 2004 chỉ đạt khoảng 18.588 tỷ đồng, trong khi nhu cầu vốn tối thiểu theo thông lệ quốc tế cần tới 37.529 tỷ đồng, tạo ra khoảng thâm hụt vốn tự có lên tới 19.940 tỷ đồng.

Thứ hai, gánh nặng nợ xấu tồn đọng từ cơ chế bao cấp và tín dụng chính trị đe dọa trực tiếp an toàn hệ thống. Mặc dù tỷ lệ nợ xấu báo cáo năm 2004 giảm xuống còn 4.14% so với mức 14.30% của năm 1999, nhưng quy mô nợ khó đòi thực tế vẫn rất lớn, điển hình như Incombank từng ghi nhận hơn 10.139 tỷ đồng nợ xấu vào cuối năm 2001, trong đó riêng vụ án Epco - Minh Phụng chiếm 1.379 tỷ đồng.

Thứ ba, quy định pháp luật về phương pháp định giá doanh nghiệp bộc lộ sự thiếu tương thích. Thông tư 126/2004/TT-BTC từng áp đặt cứng nhắc phương pháp dòng tiền chiết khấu đối với định chế ngân hàng, tuy nhiên trên thực tế tổ chức tư vấn quốc tế Credit Suisse khi định giá Vietcombank đã phải chuyển sang áp dụng phương pháp phân tích chiết khấu cổ tức và so sánh thị trường để phản ánh đúng giá trị thương hiệu.

Thứ tư, khung pháp lý về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại Nghị định 69/2007/NĐ-CP quy định trần room ngoại ở mức 30% vốn điều lệ, trong đó một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài nắm tối đa 15% và thời gian hạn chế chuyển nhượng lên tới 5 năm, tạo ra rào cản nhất định trong việc đàm phán thu hút dòng vốn lớn từ các định chế tài chính toàn cầu.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm hệ số an toàn vốn xuất phát từ việc tốc độ tăng trưởng tài sản có bình quân đạt 25%/năm trong khi tốc độ tăng vốn tự có từ ngân sách nhà nước chỉ đạt 6%/năm. Sự chênh lệch này giải thích nguyên nhân các ngân hàng không thể tự nâng cao năng lực tài chính nếu không thực hiện xã hội hóa nguồn vốn qua thị trường chứng khoán. Mô hình quản trị ngân hàng mang nặng tính hành chính với cơ cấu ban lãnh đạo kiêm nhiệm đã làm mờ nhạt chức năng giám sát của Hội đồng quản trị, dẫn đến tình trạng rủi ro đạo đức trong cấp tín dụng chỉ định.

Dữ liệu so sánh giữa phương pháp định giá tài sản thuần và phương pháp chiết khấu cổ tức cho thấy sự khác biệt hàng nghìn tỷ đồng đối với giá trị doanh nghiệp sau khi tính toán các tài sản vô hình như mạng lưới chi nhánh, cơ sở dữ liệu khách hàng và uy tín thương hiệu. So sánh với tiến trình cải tổ 4 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn của Trung Quốc, việc Việt Nam ban hành kịp thời Nghị định 109/2007/NĐ-CP thay thế Nghị định 187/2004/NĐ-CP đã mở khóa quyền lựa chọn phương pháp định giá linh hoạt, rút ngắn thời gian cam kết nắm giữ cổ phần của nhà đầu tư chiến lược xuống 3 năm và chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu từ Ngân hàng Nhà nước sang Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước trước hạn chót mở cửa hoàn toàn thị trường tài chính năm 2010.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy chế định giá tài sản ngân hàng thương mại: Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết việc kết hợp phương pháp chiết khấu dòng cổ tức và phương pháp định giá tài sản điều chỉnh theo rủi ro. Mục tiêu đặt ra là rút ngắn quy trình phê duyệt phương án định giá xuống dưới 6 tháng và đảm bảo giá trị xác định không thấp hơn giá trị tài sản ròng kế toán, áp dụng ngay trong giai đoạn 2008–2010 cho các đợt phát hành cổ phần lần đầu của BIDV và Incombank.

Thứ hai, điều chỉnh linh hoạt tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài: Chính phủ xem xét nới rộng hạn mức sở hữu của một định chế tài chính chiến lược nước ngoài từ 15% lên mức 20% đến 25% vốn điều lệ đối với các ngân hàng hoàn thành trích lập dự phòng rủi ro 5 nhóm nợ theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN. Giải pháp này giúp các ngân hàng thương mại cổ phần nhanh chóng tiếp nhận chuyển giao công nghệ ngân hàng lõi và chuẩn hóa hệ thống quản trị rủi ro theo chuẩn Basel II trong vòng 3 năm sau chuyển đổi.

Thứ ba, phân định triệt để chức năng quản lý nhà nước và đại diện chủ sở hữu vốn: Ngân hàng Nhà nước cần tập trung hoàn toàn vào chức năng hoạch định chính sách tiền tệ, thanh tra và giám sát an toàn vĩ mô, đồng thời thực hiện chuyển giao 100% phần vốn nhà nước tại các ngân hàng thương mại cổ phần về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước quản lý. Lộ trình bàn giao cần hoàn tất trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày ngân hàng thương mại chính thức nhận giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty cổ phần.

Thứ tư, tái cơ cấu toàn diện bộ máy quản trị và xử lý tài chính: Hội đồng quản trị các ngân hàng sau cổ phần hóa phải thiết lập tỷ lệ tối thiểu 20% thành viên độc lập, áp dụng cơ chế đánh giá hiệu quả kinh doanh theo từng khối nghiệp vụ và phân loại nợ nghiêm ngặt. Mục tiêu cụ thể là đưa tỷ lệ nợ xấu thực chất xuống dưới mức 3% tổng dư nợ và nâng hệ số an toàn vốn CAR đạt tối thiểu 9% trong giai đoạn 2008–2012.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách gồm Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước. Các đơn vị này có thể khai thác hệ thống cơ sở pháp lý và kinh nghiệm xử lý tài chính, phân loại nợ theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN để xây dựng các văn bản hướng dẫn cổ phần hóa các tập đoàn, tổng công ty nhà nước giai đoạn tiếp theo.

Nhóm lãnh đạo, ban chỉ đạo cổ phần hóa và ban kiểm soát tại các tổ chức tín dụng. Tài liệu cung cấp góc nhìn thực tiễn về quy trình kiểm kê phân loại tài sản, lựa chọn nhà tư vấn định giá độc lập quốc tế và phương thức đàm phán hợp đồng cổ đông chiến lược giúp tối ưu hóa giá trị phát hành lần đầu ra công chúng.

Nhóm nhà đầu tư tài chính, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư trong và ngoài nước. Các định chế đầu tư có thể sử dụng thông tin phân tích về cơ cấu vốn, tỷ lệ ưu đãi 40% cho người lao động, room sở hữu ngoại 30% và quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần để xây dựng chiến lược mua bán, sáp nhập và định giá cổ phiếu ngân hàng chính xác.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu với hệ thống hơn 10 văn bản quy phạm pháp luật then chốt, nguồn số liệu lịch sử xác thực và phương pháp luận so sánh luật học mẫu mực.

Câu hỏi thường gặp

Cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước có đồng nhất với quá trình tư nhân hóa không? Không. Cổ phần hóa tại Việt Nam là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu từ 100% vốn nhà nước sang chế độ đa sở hữu, trong đó Nhà nước vẫn duy trì tỷ lệ sở hữu chi phối trên 51% vốn điều lệ nhằm giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, khác hoàn toàn với tư nhân hóa là bán đứt tài sản công cho nhóm tư nhân.

Hệ số an toàn vốn CAR của các ngân hàng quốc doanh trước khi cổ phần hóa đạt bao nhiêu phần trăm? Trước năm 2005, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam dao động ở mức rất thấp từ 4.43% đến 6.17%, không đáp ứng chuẩn an toàn vốn tối thiểu 8% theo thông lệ quốc tế của hiệp ước Basel I, dẫn đến nhu cầu cấp thiết phải huy động vốn từ thị trường.

Phương pháp định giá nào được pháp luật ưu tiên áp dụng khi cổ phần hóa ngân hàng thương mại? Theo Nghị định 109/2007/NĐ-CP, ngân hàng được quyền lựa chọn linh hoạt giữa phương pháp tài sản, phương pháp chiết khấu dòng tiền hoặc các phương pháp thị trường hiện đại như chiết khấu cổ tức do tư vấn quốc tế đề xuất, miễn là giá trị công bố không thấp hơn giá trị xác định theo phương pháp tài sản.

Nhà đầu tư chiến lược nước ngoài được phép sở hữu tối đa bao nhiêu phần trăm vốn điều lệ của ngân hàng thương mại Việt Nam? Căn cứ Nghị định 69/2007/NĐ-CP, tổng mức sở hữu của tất cả nhà đầu tư nước ngoài không quá 30% vốn điều lệ, trong đó một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài được sở hữu tối đa 15%, trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định có thể nâng lên mức 20%.

Nguồn tiền thu được từ đợt chào bán cổ phần lần đầu của ngân hàng thương mại nhà nước được phân bổ như thế nào? Sau khi trừ chi phí cổ phần hóa và thanh toán các khoản trợ cấp thôi việc, hỗ trợ đào tạo nghề tối đa 350.000 đồng/người/tháng cho lao động dôi dư, toàn bộ số tiền chênh lệch thặng dư vốn được nộp về Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước để tái đầu tư hạ tầng trọng điểm quốc gia.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện các yêu cầu lý luận và thực tiễn về pháp luật cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước tại Việt Nam qua các đóng góp trọng tâm:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp đặc thù kinh doanh tiền tệ, khẳng định tính tất yếu của việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng quốc doanh theo cơ chế thị trường.
  • Đánh giá sâu sắc thực trạng chênh lệch giữa quy mô tài sản tăng 25%/năm và mức vốn tự có thiếu hụt gần 20.000 tỷ đồng, minh chứng cho tính cấp bách của giải pháp tăng vốn qua phát hành cổ phiếu.
  • Phân tích chi tiết những điểm nghẽn pháp lý tại Nghị định 187/2004/NĐ-CP và chỉ ra những bước tiến vượt bậc của Nghị định 109/2007/NĐ-CP về phương pháp định giá và cơ chế bán vốn.
  • Đề xuất lộ trình 4 bước nhằm nâng cao hệ số CAR lên trên 9%, kiểm soát nợ xấu dưới 3% và hoàn tất bàn giao vốn đại diện chủ sở hữu nhà nước sang Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước trước mốc 2010.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ trực tiếp cho quá trình xây dựng Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi và các đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và chuyên gia tài chính có thể khai thác chi tiết các mô hình phân tích và dữ liệu thực chứng trong toàn văn công trình để phục vụ công tác nghiên cứu chuyên sâu và hoạch định chiến lược đầu tư tài chính ngân hàng.