Tổng quan luận án

Chủ trương đổi mới toàn diện khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được Đảng và Nhà nước Việt Nam triển khai từ đầu thập niên 1990, trong đó chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần (CPH DNNN) là giải pháp trọng tâm nhằm cơ cấu lại sở hữu, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau hơn 20 năm thực hiện, bên cạnh những kết quả tích cực về vốn, doanh thu, lợi nhuận và thu nhập của người lao động tại nhiều đơn vị, tiến trình CPH nhìn chung vẫn diễn ra chậm chạp. Tại tỉnh Thanh Hóa, quá trình CPH DNNN bắt đầu thực hiện từ năm 1998, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2014 đã hoàn thành CPH 98 doanh nghiệp (trong đó có 24 doanh nghiệp bộ phận). Mặc dù phần lớn doanh nghiệp sau CPH nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiến trình này tại địa phương bộc lộ nhiều hạn chế: mục tiêu CPH đạt thấp, xác định giá trị doanh nghiệp chưa hợp lý, xử lý nợ lúng túng, tình trạng thất thoát tài sản nhà nước còn diễn ra, quyền lợi người lao động chưa được đảm bảo thỏa đáng và xung đột lợi ích nhóm bắt đầu phát sinh.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định xuất phát từ thực tế: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận CPH dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật hoặc nghiên cứu đơn lẻ từng doanh nghiệp, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh từ sự xung đột quan hệ lợi ích dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh sau năm 2010. Luận án tiến sĩ Kinh tế chính trị của nghiên cứu sinh Trịnh Văn Súy, do PGS. Phí Mạnh Hồng hướng dẫn khoa học tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2015), được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình CPH DNNN ở Thanh Hóa, phân tích nguyên nhân của tình trạng này, từ đó đề xuất các quan điểm và hệ thống giải pháp xử lý thích hợp nhằm đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả CPH DNNN trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.

Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Quá trình CPH DNNN thường làm nảy sinh các vấn đề kinh tế - xã hội nào? Căn nguyên sâu xa có tính quy luật chi phối sự nảy sinh các vấn đề này là gì?
  2. Những vấn đề kinh tế - xã hội đó bộc lộ, thể hiện như thế nào trong thực tiễn quá trình CPH DNNN ở tỉnh Thanh Hóa?
  3. Cần có các giải pháp gì để xử lý hiệu quả các vấn đề trên nhằm đẩy nhanh tiến độ CPH và nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN sau CPH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình CPH DNNN dưới góc độ Kinh tế chính trị, tức là xem xét các hiện tượng kinh tế như sự phản chiếu của các quan hệ lợi ích giữa các chủ thể, gắn liền với môi trường thể chế, chính sách và vai trò quản lý của Nhà nước.

Phạm vi nghiên cứu được xác định:

  • Về nội dung: Tập trung vào các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh từ sự xung đột lợi ích giữa các chủ thể kinh tế liên quan, gây ra tác động tiêu cực đến tiến trình CPH và hoạt động của doanh nghiệp sau CPH; không đi sâu vào các khía cạnh thuần túy kinh tế - kỹ thuật.
  • Về không gian: Địa bàn tỉnh Thanh Hóa, đồng thời khảo cứu so sánh với thực tiễn tại một số địa phương khác (như tỉnh Thừa Thiên - Huế) để rút ra bài học kinh nghiệm.
  • Về thời gian: Giai đoạn từ năm 1998 (thời điểm tỉnh Thanh Hóa bắt đầu triển khai CPH DNNN) đến hết năm 2014, định hướng giải pháp đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại các công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài thành ba nhóm chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về CPH DNNN nói chung

  • Nghiên cứu lý luận: Các tác giả Nguyễn Hữu Từ (1993), Ngô Quang Minh (2001), Nguyễn Cảnh Hoan (2002), Đỗ Thị Phi Hoài (2003), Lê Hồng Hạnh (2004) và Đề tài khoa học cấp Bộ "Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam" (1998) đã làm rõ tính tất yếu khách quan của CPH trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng XHCN; khẳng định CPH không làm chệch hướng XHCN mà giúp nâng cao hiệu quả nhờ tách bạch quyền sở hữu và quyền quản lý điều hành. Các nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - CIEM (1994), Bộ Tài chính (1998), Bùi Quốc Anh (2009) tiếp cận CPH dưới góc độ thể chế kinh tế hỗn hợp và giải pháp tài chính huy động vốn.
  • Nghiên cứu thực tiễn trong nước và quốc tế: Trần Hồng Thái (2001) phân tích nguyên nhân làm chậm tiến độ CPH giai đoạn 2001-2010; Đỗ Thị Phi Hoài (2003) tổng kết 10 năm CPH (1992-2002); Tô Huy Rứa (2006) nhìn nhận đổi mới DN từ góc độ phát triển bền vững; Landalt (Viện Công nghệ châu Á - AIT) khảo sát thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh; Hồ Sỹ Hùng (2012), Nguyễn Huy Oánh và Lê Văn Bằng (2006), Ngô Đăng Thành (2010), Lê Đình Vinh nghiên cứu chuyển đổi mô hình Tổng công ty nhà nước sang mô hình Công ty Mẹ - Con. Về kinh nghiệm quốc tế, tác phẩm do Trương Văn Bân chủ biên phân tích cải cách DNNN tại Trung Quốc; Lin, J. và các tài liệu chuyên ngành phân tích bài học từ liệu pháp "sốc" tư nhân hóa tại Liên bang Nga, Ba Lan, Hungary, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan.

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong và sau CPH DNNN

  • Trần Ngọc Bút (1998) với bài viết "Bức xúc của cổ phần hoá DNNN"; Trần Thị Minh Ngọc (2008) nghiên cứu các yếu tố cản trở CPH tại Hà Nội; Phạm Ngọc Linh (2009), Trần Tiến Cường (2001), Lê Hoàng Hải (2001) chỉ ra các bất cập về định giá tài sản, vướng mắc tài chính, xử lý nợ và quản lý sau CPH.
  • Các khía cạnh chuyên biệt: Nguyễn Thị Kim Phượng (2001) nghiên cứu yếu tố tâm lý xã hội; Chu Đức Hoài (2001) nghiên cứu chế độ bảo hiểm xã hội và lao động dôi dư; Phạm Quang Huy (2002), Nguyễn Cảnh Hoan (2002) nghiên cứu khía cạnh tài chính và thị trường chứng khoán; Nguyễn Lê Quý Hiển (2012) phân tích sự chuyển biến quan hệ sở hữu từ đơn nhất sang đa sở hữu.

Nhóm 3: Các nghiên cứu về CPH DNNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

  • Các tài liệu hội thảo khoa học: "Đổi mới phát huy chủ đạo của DNNN" do Ban Kinh tế Tỉnh ủy Thanh Hóa tổ chức (1998); "Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thanh Hóa" do Trường Đại học Hồng Đức tổ chức (2009).
  • Các bài viết phản ánh hoạt động tại từng đơn vị cụ thể trên Báo Thanh Hóa của Đỗ Gia Ngân (2010), Trần Đoàn Viên (2011, 2012), Phạm Ngọc (2013), Lê Hà (2013), Tùng Dương (2014), Nguyễn Xuân (2015) tại các đơn vị như: Công ty Cổ phần Sông Đà 25, Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn, Công ty Cổ phần Dược - Vật tư Y tế Thanh Hóa, Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định gồm ba điểm chính:

  1. Thiếu sự thống nhất lý luận về bản chất của CPH DNNN (mối quan hệ giữa CPH và tư nhân hóa, mức độ nắm giữ vốn chi phối của Nhà nước).
  2. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh từ bản chất xung đột lợi ích kinh tế trong quá trình CPH dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị, đặc biệt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
  3. Phần lớn tài liệu trước đây chỉ khảo cứu dữ liệu trước năm 2010, để trống giai đoạn phát triển và tái cơ cấu sau năm 2010 với nhiều vấn đề tiêu cực mới bộc lộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án tiếp cận nghiên cứu dựa trên hệ thống cơ sở lý luận Kinh tế chính trị và các lý thuyết kinh tế học hiện đại:

  • Khái niệm và vai trò của DNNN: DNNN được xác định là tổ chức kinh tế thuộc quyền kiểm soát/chi phối của Nhà nước, có chức năng sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ bán ra thị trường, theo đuổi mục tiêu lợi nhuận kết hợp với các nhiệm vụ xã hội được ủy thác. Trong nền kinh tế thị trường, DNNN đóng vai trò khắc phục thất bại thị trường, cung cấp hàng hóa công cộng và hạ tầng thiết yếu.
  • Lý thuyết Lựa chọn công cộng (Public Choice Theory): Sử dụng Định lý về Tính không thể của Kenneth Arrow để chứng minh sự thiếu hiệu quả tiềm ẩn trong các quyết định tập thể đối với tài sản công.
  • Lý thuyết Người ủy thác - Người đại diện (Principal-Agent Theory): Phân tích sự bất đối xứng thông tin và quyền lực giữa chủ sở hữu thực sự (toàn dân/Nhà nước) và người được ủy thác quản lý trực tiếp (giám đốc DNNN), tạo ra xung đột lợi ích và tình trạng phân bổ nguồn lực kém hiệu quả.
  • Hiện tượng "Kẻ ăn không" (Free-rider problem): Giải thích sự suy giảm động lực giám sát tài sản công của từng cá nhân khi quyền sở hữu bị phân tán trong chế độ sở hữu toàn dân.
  • Khung phân tích bản chất CPH: Luận án quan niệm thực chất CPH DNNN là quá trình chuyển đổi tài sản từ sở hữu công mang tính chất "vô chủ", "phi cá nhân hóa" thành tài sản thuộc quyền sở hữu xác định của các cá nhân/cổ đông cụ thể; đồng thời tái cấu trúc vai trò của Nhà nước từ "người chơi trực tiếp" sang "người trọng tài" kiến tạo khung khổ pháp lý bình đẳng.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thực tế được thực hiện hoàn toàn theo hướng định tính kết hợp phân tích dữ liệu thứ cấp:

  • Cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem xét các hiện tượng kinh tế - xã hội trong mối liên hệ phổ biến và sự vận động lịch sử của nền kinh tế chuyển đổi.
  • Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Gạt bỏ các hiện tượng cá biệt, ngẫu nhiên để nhận diện bản chất xung đột lợi ích cốt lõi chi phối tiến trình CPH (áp dụng tại Chương 2 và Chương 3).
  • Phương pháp kết hợp lôgic và lịch sử: Khảo sát diễn tiến CPH tại Thanh Hóa theo trình tự thời gian 1998–2014 song song với việc xâu chuỗi lôgic các nhóm quan hệ lợi ích kinh tế.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống, phân tích và tổng hợp: Đánh giá từng khía cạnh nảy sinh ở các doanh nghiệp cụ thể (Chương 3) và tổng hợp thành các quy luật chung (Chương 2, Chương 4).
  • Phương pháp so sánh: So sánh thực trạng CPH giữa Thanh Hóa với các địa phương khác (như Thừa Thiên - Huế) và so sánh giữa giai đoạn trước và sau CPH.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ các văn kiện, báo cáo tổng kết của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp tỉnh, số liệu niên giám thống kê và các bài báo, đề tài khoa học đã xuất bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về CPH DNNN theo ba nhóm nội dung: lý luận chung, các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh và thực tiễn CPH tại tỉnh Thanh Hóa. Tác giả chỉ ra rằng đa số công trình trước đây tập trung vào mục tiêu đẩy nhanh tiến độ hoặc đánh giá hiệu quả kinh tế thuần túy mà chưa nhìn nhận các vướng mắc dưới lăng kính mâu thuẫn quan hệ lợi ích. Từ đó, chương 1 xác lập ba khoảng trống nghiên cứu chính về lý luận, thực tiễn địa phương và cập nhật khung thời gian nghiên cứu sau năm 2010.

Chương 2: Các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2 tập trung phân tích lý luận về DNNN, chỉ rõ những hạn chế bắt nguồn từ sở hữu công như: thiếu vắng áp lực cạnh tranh, hiện tượng "ngân sách mềm" (không lo phá sản), hệ thống lương thưởng kém linh hoạt và sự chồng chéo giữa mục tiêu kinh tế với trách nhiệm xã hội. Luận án khẳng định ưu thế của công ty cổ phần về chế độ trách nhiệm hữu hạn, khả năng huy động vốn và tính xác định rõ ràng của chủ sở hữu.

Tác giả luận giải luận điểm trung tâm: Xung đột lợi ích là cội nguồn sâu xa của các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình CPH DNNN. Quá trình CPH làm thay đổi vị thế và quyền lợi giữa các nhóm: Nhà nước, cán bộ cơ quan chủ quản, ban lãnh đạo doanh nghiệp, người lao động và các nhà đầu tư bên ngoài. Các vấn đề cụ thể thường phát sinh gồm:

  1. Tâm lý chần chừ, né tránh, cản trở CPH từ phía những người có nguy cơ mất quyền lợi gắn với sở hữu công;
  2. Khó khăn, tiêu cực trong xác định giá trị doanh nghiệp (nguy cơ thất thoát vốn, tài sản nhà nước, đặc biệt là giá trị đất đai và lợi thế kinh doanh);
  3. Sự phức tạp trong phân loại, đối chiếu và xử lý các khoản nợ tồn đọng;
  4. Xáo trộn tổ chức, sắp xếp lại lao động và giải quyết lao động dôi dư;
  5. Chuyển đổi cấu trúc sở hữu và nguy cơ xung đột quyền lực giữa nhóm cổ đông chi phối và cổ đông thiểu số/người lao động;
  6. Mối quan hệ quản lý nhà nước và tình trạng phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp sau CPH với DNNN thuần túy.

Chương này cũng tổng hợp kinh nghiệm CPH tại một số địa phương (điển hình như tỉnh Thừa Thiên - Huế) để rút ra các bài học về hoàn thiện pháp lý, nâng cao tính minh bạch và phát triển các thiết chế trung gian tài chính.

Danh mục bảng biểu Chương 2 trong văn bản
Bảng 2.1: Một số kết quả của các DN CPH của tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2010
Bảng 2.2: So sánh tỷ lệ tăng thu nhập của người lao động và tăng lợi nhuận của 3 CTCP

Chương 3: Tiến trình cổ phần hóa và những vấn đề kinh tế - xã hội đặt ra từ quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Thanh Hóa

Chương 3 phân tích bối cảnh đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng khu vực DNNN của tỉnh Thanh Hóa trước khi tiến hành CPH. Giai đoạn trước đổi mới, DNNN tại Thanh Hóa có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, tỷ lệ thua lỗ và nợ khó đòi cao.

Tiến trình CPH tại Thanh Hóa được khảo sát từ năm 1998 đến năm 2014 qua các mốc thời gian:

  • Tính đến ngày 31/12/2014, tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện CPH được 98 doanh nghiệp (trong đó có 24 doanh nghiệp bộ phận).
  • Đa phần các doanh nghiệp sau CPH có sự gia tăng về chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận và thu nhập cho người lao động.

Tuy nhiên, chương 3 làm rõ 6 nhóm vấn đề kinh tế - xã hội tiêu cực bộc lộ rõ nét tại địa phương:

  1. Tâm lý e ngại, ngăn trở CPH: Xuất hiện tư tưởng trông chờ, giữ lại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở một số cấp quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp.
  2. Xác định giá trị doanh nghiệp: Công tác kiểm kê, định giá tài sản còn lúng túng; phương pháp định giá chưa phản ánh đầy đủ giá trị thị trường, bỏ sót giá trị lợi thế vị trí địa lý và quyền sử dụng đất.
  3. Đánh giá và xử lý nợ: Tình trạng nợ dây dưa, nợ khó đòi chưa được xử lý dứt điểm trước khi chuyển đổi khiến doanh nghiệp sau CPH chịu gánh nặng tài chính lớn.
  4. Sắp xếp lao động và giải quyết lao động dôi dư: Tình trạng dôi dư lao động sau sắp xếp gây áp lực việc làm; chính sách trợ cấp mất việc và đào tạo lại nghề còn bất cập.
  5. Chuyển đổi cấu trúc sở hữu: Tỷ lệ sở hữu của người lao động trong nhiều doanh nghiệp bị suy giảm nhanh chóng sau CPH do hiện tượng gom cổ phiếu của các cổ đông lớn; quyền lợi của cổ đông nhỏ lẻ chưa được bảo vệ.
  6. Quản lý nhà nước và sự phân biệt đối xử: Cơ chế quản lý vốn nhà nước tại các CTCP còn lúng túng; sự hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương đối với doanh nghiệp sau CPH chưa thực sự bình đẳng so với giai đoạn doanh nghiệp còn thuộc sở hữu nhà nước.

Nguyên nhân của các hạn chế trên xuất phát từ: cơ chế, chính sách CPH của Nhà nước thay đổi liên tục; công tác chỉ đạo và quản lý nhà nước của địa phương chưa theo kịp yêu cầu; các thiết chế hỗ trợ thị trường (đơn vị tư vấn định giá, kiểm toán độc lập, thị trường chứng khoán) còn kém phát triển; công tác tuyên truyền, giải thích nhận thức xã hội về CPH còn hạn chế.

Danh mục bảng biểu Chương 3 trong văn bản
Bảng 3.1: Tỷ trọng cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Thanh Hóa 2006-2012 (%)
Bảng 3.3: Thu nhập bình quân đầu người/tháng giai đoạn 2002-2012
Bảng 3.4: Số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và nợ khó đòi (tính đến 1/1/1995)

Chương 4: Quan điểm và giải pháp giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Thanh Hóa

Trên cơ sở dự báo bối cảnh kinh tế - xã hội và tiến trình tái cấu trúc DNNN, chương 4 xác lập các quan điểm định hướng và đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong CPH DNNN tại Thanh Hóa đến năm 2020:

  1. Đổi mới phương pháp định giá tài sản doanh nghiệp: Áp dụng các phương pháp định giá hiện đại (như phương pháp dòng tiền chiết khấu - DCF), đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, tổ chức tư vấn định giá.
  2. Minh bạch hóa tài chính và quyền sở hữu nhà nước: Công khai thông tin tài chính trước CPH; minh bạch hóa cơ cấu sở hữu và tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ tại các CTCP sau chuyển đổi.
  3. Phân định rõ chức năng quản lý: Tách bạch dứt điểm chức năng quản lý nhà nước về mặt hành chính kinh tế với chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các công ty cổ phần.
  4. Hoàn thiện môi trường kinh doanh và bảo vệ quyền lợi người lao động: Đảm bảo đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; thực hiện nghiêm túc các chính sách bảo hiểm xã hội, giải quyết chế độ cho lao động dôi dư và bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số.
  5. Nâng cao năng lực chỉ đạo, điều hành: Tăng cường trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương tỉnh Thanh Hóa; nâng cao vai trò và hiệu quả phối hợp của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tỉnh; đồng thời gửi các kiến nghị cụ thể lên Chính phủ và các Bộ, ngành hữu quan để hoàn thiện khung khổ pháp luật chung.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Bổ sung và làm rõ khung lý thuyết về các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong CPH DNNN dưới góc độ Kinh tế chính trị. Luận án khẳng định xung đột quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể (Nhà nước, ban lãnh đạo doanh nghiệp, người lao động, nhà đầu tư) là nguyên nhân sâu xa, có tính quy luật chi phối các rào cản và vướng mắc trong tiến trình chuyển đổi sở hữu.
  • Luận giải vị trí, vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, chỉ ra rằng trình độ phát triển của các thể chế thị trường và tính chất minh bạch của khung khổ pháp lý là yếu tố quyết định mức độ bộc lộ và khả năng giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội tiêu cực phát sinh.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Phân tích và đánh giá có hệ thống thực trạng CPH DNNN tại tỉnh Thanh Hóa trong suốt giai đoạn 15 năm (1998–2014), cung cấp bức tranh toàn diện về kết quả CPH (hoàn thành CPH 98 doanh nghiệp tính đến 31/12/2014) cùng các hạn chế đặc thù tại địa phương.
  • Cắt nghĩa các yếu tố thực tế dẫn dắt sự nảy sinh các vấn đề KT-XH tại Thanh Hóa như: sự lúng túng trong định giá đất đai, áp lực giải quyết nợ tồn đọng, hiện tượng thâu tóm cổ phần làm suy giảm quyền làm chủ của người lao động, và sự thiếu đồng bộ của các thiết chế tư vấn trung gian.
  • Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ có tính khả thi dành riêng cho tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, gắn kết giữa đổi mới kỹ thuật định giá, hoàn thiện thể chế quản lý vốn nhà nước, đảm bảo bình đẳng môi trường kinh doanh và an sinh cho người lao động.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực chứng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa với mốc thời gian kết thúc khảo sát số liệu tại thời điểm 31/12/2014. Các dữ liệu phục vụ phân tích chủ yếu là nguồn dữ liệu thứ cấp từ báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước và một số doanh nghiệp điển hình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực chứng giai đoạn sau năm 2014 đến năm 2020 khi Nhà nước đẩy mạnh thoái vốn và sắp xếp các tập đoàn, tổng công ty; đi sâu phân tích cơ chế giải quyết xung đột lợi ích giữa nhóm cổ đông nắm quyền chi phối và nhóm cổ đông nhỏ lẻ trong quản trị công ty cổ phần sau CPH.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp khung lý thuyết chuyên ngành Kinh tế chính trị về quan hệ sở hữu, xung đột lợi ích và phương pháp tiếp cận định tính trong phân tích quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước.
  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Là tài liệu tham khảo thực tiễn cho Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tỉnh, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư trong việc xây dựng phương án định giá, quản lý vốn nhà nước và giải quyết chính sách lao động dôi dư tại các doanh nghiệp CPH.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Chương 2 (khung lý luận về xung đột lợi ích trong CPH) và Chương 3 (phân tích 6 nhóm vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh tại Thanh Hóa giai đoạn 1998–2014).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định nguyên nhân sâu xa nhất làm nảy sinh các vấn đề kinh tế - xã hội tiêu cực trong CPH DNNN là gì?
Luận án chỉ ra rằng nguyên nhân sâu xa, có tính quy luật là sự xung đột mâu thuẫn về mặt lợi ích kinh tế giữa các chủ thể (Nhà nước, cơ quan chủ quản, lãnh đạo doanh nghiệp, người lao động, nhà đầu tư) khi chuyển đổi từ hình thức sở hữu toàn dân ("vô chủ", "phi cá nhân hóa") sang hình thức sở hữu xác định của các cổ đông.

2. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2014, tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện CPH được bao nhiêu doanh nghiệp?
Theo số liệu công bố trong luận án, tính đến ngày 31/12/2014, tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện CPH được 98 doanh nghiệp, trong đó bao gồm 24 doanh nghiệp bộ phận.

3. Luận án sử dụng các lý thuyết kinh tế hiện đại nào để giải thích những hạn chế của DNNN trước khi CPH?
Luận án sử dụng Lý thuyết Lựa chọn công cộng (Định lý tính không thể của Kenneth Arrow), Lý thuyết Người ủy thác - Người đại diện (bất cân xứng thông tin/quyền lực giữa nhân dân và người quản lý) và Hiện tượng "Kẻ ăn không" (Free-rider problem) để giải thích sự kém hiệu quả của sở hữu công.

4. Những biểu hiện tiêu cực nổi bật trong quá trình CPH DNNN tại Thanh Hóa được chỉ ra gồm những khía cạnh nào?
Gồm 6 biểu hiện chính: tâm lý chần chừ cản trở CPH; bất cập và thất thoát trong định giá doanh nghiệp (nhất là quyền sử dụng đất); vướng mắc xử lý nợ tồn đọng; áp lực giải quyết lao động dôi dư; chuyển dịch sở hữu làm giảm vai trò của người lao động; và sự phân biệt đối xử trong quản lý nhà nước sau CPH.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào đến năm 2020?
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp: Đổi mới phương pháp định giá và nâng cao đạo đức cán bộ định giá; minh bạch hóa tài chính và sở hữu nhà nước; tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu vốn; hoàn thiện môi trường kinh doanh bình đẳng và bảo vệ quyền lợi người lao động; tăng cường vai trò quản lý của cấp ủy, chính quyền địa phương và Ban Chỉ đạo Đổi mới doanh nghiệp tỉnh.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trịnh Văn Súy đã giải quyết một cách toàn diện vấn đề CPH DNNN tại tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 1998–2014 dưới lăng kính Kinh tế chính trị. Công trình luận giải bản chất CPH là sự chuyển đổi sang sở hữu xác định, chỉ rõ xung đột lợi ích là căn nguyên chi phối các vướng mắc kinh tế - xã hội nảy sinh trong thực tiễn. Hệ thống quan điểm và giải pháp được đề xuất cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn có giá trị phục vụ công tác tái cơ cấu DNNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020.