Chương 1, Luật Việc làm 2013 điều quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [11, 12]. Theo các định nghĩa trên, các hoạt động được xác định là việc làm phải đồng thời thoả mãn 3 điều kiện: (1) là những hoạt động lao động (thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm); (2) các hoạt động đó phải tạo ra thu nhập (bao gồm: làm các công việc được trả công dưới dạng tiền, hiện vật; hoặc những công việc tự làm để thu lợi cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công cho công việc đó); (3) các hoạt động đó được pháp luật cho phép. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuân hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật [19]. Qua những phân tích nêu trên, ta có thể kết luận việc làm là những hoạt động lao động hợp pháp, mang tính nghề nghiệp và tương đối ổn định, tạo ra thu nhập hoặc có khả năng tạo ra thu nhập cho người thực hiện [7].
Giữa việc làm và lao động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Một trong những quyền cơ bản của công dân chính là lao động, công dân có sức lao động phải được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng. Tuỳ theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta có thể phân chia việc làm thành nhiều loại. Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc ta có việc làm chính và việc làm phụ.
Việc làm chính là việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian nhất hay có thu nhập cao nhất. Việc làm phụ là việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính. Ngoài ra, người ta cũng chia việc làm thành việc làm bán thời gian, việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả. Khái niệm cơ hội việc làm Cơ hội việc làm là điều kiện thuận lợi để có việc làm hoặc có được việc làm một cách thuận lợi hay “những điều kiện thuận lợi mà chúng ta có đủ nguồn lực để nắm bắt việc làm và thực hiện nó nhằm có được một công việc tốt.
Ngoài ra cơ hội việc làm còn được hiểu theo hướng đó là hoàn cảnh thuận lợi để khởi nghiệp, hoàn cảnh thuận lợi để được tiếp nhận vào một tổ chức kinh tế - xã hội uy tín; hoàn cảnh thuận lợi để có vị trí việc làm phù hợp; hoàn cảnh thuận lợi để được học hỏi kinh nghiệm, bổ sung nâng cao kiến thức, kỹ năng cá nhân; hoàn cảnh thuận lợi để được thăng tiến,. Tất cả những cơ hội đó nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là thực hiện mục tiêu vươn tới của mỗi người Trong thị trường lao động hiện nay, cơ hội việc làm có sự phân hóa rõ rệt. Một số ngành nghề có nhiều cơ hội việc làm, trong khi đó, một số khác có sự cạnh tranh cao và ít cơ hội. Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm xu hướng phát triển kinh tế, công nghệ, các chính sách của chính phủ và nhu cầu của thị trường.
Do vậy, cơ hội việc làm xuất hiện khi đủ các điều kiện như sau: (1) Người được tuyển dụng (người xin việc, nguồn nhân lực.) đều phải có hoặc trang bị cho bản thân các yêu cầu của nhà tuyển dụng như: kỹ năng ngoại ngữ, kỹ năng mềm. Thông qua các bằng chứng chứng minh như bằng cấp, chứng chỉ, văn bản điều động, chấp thuận việc chuyển đổi công tác, chấp thuận việc tuyển dụng và phải có hiệu lực bao gồm con dấu có hiệu cung bởi cơ quan có thẩm quyền và chữ ký. (2) Phải nằm trong khoảng thời gian mà cơ quan hay tổ chức đó tổ chức TDNL và người được tuyển dụng phải thực hiện hành động xin vaò cơ quan hoặc tổ chức đó bằng cách nộp hồ sơ trực tiếp, đến phỏng vấn. Miễn là phải là hành động của người xin ứng tuyển trong suốt thời gian tuyển dụng.
Sau hoặc trước thời gian này thì đều không có ý nghĩa và từ đó mất đi cơ hội việc làm. (3) Mặc dù không nằm trong việc cơ hội xuất hiện nhưng để đảm bảo công việc xin làm chắc chắn đem lại nếu không là lợi ích thì cũng phải là một môi trường tốt, phát triển bản thân và các giá trị nhằm chuẩn bị cho tương lai nếu có nhu cầu thay đổi công việc khác. Khái niệm sinh viên Theo Từ điển Giáo dục học: “Sinh viên là người học của cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học” [3]. Theo Luật Giáo dục Đại học: Sinh viên là người đang học tập và 9 nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học, theo học chương trình đào tạo cao đẳng, chương trình đào tạo đại học [10].
Sinh viên là người học tập tại các cơ sở đại học, cao đẳng và ở đó họ được trang bị kiến thức bài bản về một ngành nghề để chuẩn bị cho một công việc sau này. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học. Sinh viên đại diện cho một nhóm xã hội đặc biệt và được xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Đối với xã hội nói chung và tầng lớp thanh niên nói riêng, đó là một nhóm xã hội được ngưỡng mộ và nhận được sự quan tâm chung của xã hội.
Nhìn từ góc độ xã hội học, SV có những đặc điểm cơ bản sau: - Mang tính phân tầng xã hội, có khả năng lao động xã hội nhanh do được tiếp cận những giá trị mới, năng động nên họ thuận lợi trong công việc chiếm lĩnh những vị trí cao trong xã hội. - Mang tính đặc thù về độ tuổi và phẩm chất xã hội, thường có quá trình xã hội hóa riêng biệt so với các nhóm xã hội khác, có địa vị, vị trí, vai trò xã hội nhất định. - Có lối sống và định hướng giá trị đặc thù, dễ dàng tiếp thu những giá trị xã hội mới. - Có tính tích cực xã hội, tính độc lập, tự lập và có nhu cầu khẳng định bản thân cao Sinh viên luôn nhận được sự quan tâm và tin tưởng của xã hội, cũng chính bởi vậy mà vị thế của tầng lớp xã hội này ngày càng được nâng cao.
Trong xu thế hội nhập toàn cầu, sinh viên đóng vai trò to lớn trong việc nghiên cứu khoa học kỹ thuật, tiếp cận những giá trị mới và họ xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước 1. Khái niệm Tuyển dụng nhân lực “Tuyển dụng nhân lực chính là một quá trình tìm kiếm và lựa chọn nhân lực để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của tổ chức và bổ sung lực lượng lao động cần thiết để thực hiện các mục tiêu của tổ chức” [16]. Một quan điểm khác cho rằng “Tuyển dụng nhân lực là quá trình thu hút các cá nhân trong và ngoài tổ chức có đủ tiêu chuẩn thích hợp tham gia dự tuyển để lựa chọn ra những ứng viên đầy đủ điều kiện đáp ứng được yêu cầu của tổ chức. Sau đố định hướng, hướng dẫn nhân viên mới hòa nhập với mội trường của tổ chức” [8].
10 Cũng có ý kiến cho rằng: “Tuyển dụng nhân lực là một quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn những người có đủ các tiêu chuẩn thích hợp cho các công việc và các chức danh cần người trong tổ chức” [13]. Từ những phân tích trên cho thấy: Tuyển dụng chính là quá trình tìm kiếm, thu hút những ứng cử viên từ những nguồn khác nhau (trong và ngoài tổ chức) tham gia dự tuyển, và lựa chọn trong số họ những người phù hợp nhất với yêu cầu công việc đặt ra, sắp xếp đúng người đúng việc và giúp đỡ họ làm quen với doanh nghiệp và công việc mới, nhằm bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Quá trình tuyển dụng được coi là hoàn thiện khi bao gồm cả hoạt động định hướng nhân viên, hướng dẫn nhân viên mới hòa nhập với tổ chức. Tuyển dụng là một khâu có ý nghĩa quan trọng, góp phần quyết định chất lượng nguồn lao động của doanh nghiệp.
Mục tiêu chính của việc TDNL là tuyển lựa được những nhân viên có trình độ học vấn, có năng lực kinh nghiệm, phẩm chất làm việc phù hợp với yêu cầu của công việc. Tích cực khi đảm nhận mỗi công việc đã được sắp xếp phù hợp với chiến lược, kế hoạch của tổ chức, doanh nghiệp, vào một thời điểm và ở một nơi phù hợp với một chi phí có thể chấp nhận được. Đồng thời đảm bảo nguồn nhân lực cho các công việc và theo kế hoạch. TDNL gồm 2 quá trình: - Tuyển mộ: Là quá trình tìm kiếm những người cần việc làm có trình độ từ lực lượng lao động xã hội bên ngoài và đội ngũ lao động nội bộ của tổ chức.
Điều này yêu cầu doanh nghiệp phải có đủ năng lực để có thể hấp dẫn được nguồn lao động chất lượng nhằm tìm kiếm đầy đủ nhân sự cả về số lượng lẫn chất lượng [8]. - Tuyển chọn: Là quá trình đánh đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc, để tìm được những người phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong số những người đã thu hút được trong quá trình tuyển mộ. Cơ sở của tuyển chọn là các yêu cầu của công việc đã được đề ra theo bản mô tả công việc và bản yêu cầu đối với người thực hiện công việc [16]. Cả hai quá trình tuyển mộ và tuyển chọn đều có vai trò nhất định trong TDNL.
Các khâu này sẽ giúp các nhà QTNL đưa ra quyết định tuyển dụng một cách đúng đắn nhất. Quyết định tuyển chọn có ý nghĩa rất quan trọng đối với chiến lược kinh doanh và đối với tổ chức, tuyển chọn tốt sẽ giúp cho các tổ chức có được những người có kỹ năng phù hợp, giảm được các chi phí do phải tuyển chọn lại, đào tạo lại cũng như 11 tránh được các thiệt hại rủi ro trong quá trình thực hiện các công việc.