Chương 1: TỔNG QUAN 1. Vài nét về đặc điểm công việc ngành dược và phạm vi làm việc của nguồn nhân lực dược 1. Đặc điểm công việc ngành dược Dược hay còn gọi là ngành Dược được gọi chung là một ngành nghề trong hệ thống y tế. Ngành Dược được phân thành nhiều lĩnh vực như nghiên cứu thuốc mới, sản xuất thuốc gọi là ngành công nghiệp bào chế, kinh doanh phân phối và cung ứng thuốc, quản lý dược, kiểm nghiệm thuốc (để đảm bảo chất lượng dược phẩm khi cung ứng ra thị trường).
Có thể khái quát một số đặc điểm công việc của ngành: Tính cạnh tranh trong ngành thấp: Ngành Dược có chỉ tiêu đào tạo thường hạn chế và yêu cầu đầu vào khá cao. Công việc ngành đòi hỏi chuyên môn và là ngành kinh doanh có điều kiện. Vì vậy nhân lực dược có số lượng ít và có tính độc quyền tương đối [1]. Mức thu nhập hấp dẫn: Theo báo cáo của BLS (Cục Thống kê Lao động Mỹ), năm 2014 ở Mỹ có 297.100 Dược sĩ và mức thu nhập trung bình của mỗi Dược sĩ là 120.950 USD mỗi năm, tương đương với 58,15 USD mỗi giờ [24].
Nhu cầu ngày một cao với các dịch vụ y dược dẫn đến mức tăng lương đáng kể trong lĩnh vực này [1]. Cơ hội tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến: Thuốc là sản phẩm kết hợp thành tựu của nhiều ngành khoa học (hóa học, công nghệ sinh học, vật lý học, công nghệ thông tin,…). Ngày nay, “cuộc đời” của nhiều loại thuốc ngày càng rút ngắn do sự ra đời của nhiều loại thuốc mới và lượng thông tin thuốc cũng ngày càng lớn. Xu hướng này vừa là điều kiện cho người Dược sĩ tiếp khoa học công nghệ mới nhưng cũng là thách thức đòi hỏi họ phải không ngừng tự học và tham gia đào tạo liên tục để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành [1].
Nhiều lĩnh vực công việc để lựa chọn: Phạm vy hoạt động của nghề Dược rất phong phú thể hiện vai trò ngày càng lớn của Dược sĩ trong hệ thống cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe [1]. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phạm vi làm việc của nguồn nhân lực dược Nhân lực dược là một phần của đội ngũ nhân lực y tế, những người được đào tạo kiến thức cơ bản về dược, làm việc trong các cơ sở liên quan đến sản xuất, cung ứng, phân phối sử dụng và đảm bảo chất lượng, tư vấn sử dụng thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng. Nhân lực dược gồm: DS (tốt nghiệp đại học trở lên), Cao đẳng dược, Trung cấp dược/ Kỹ thuật viên dược và Dược tá [5,10].
Phạm vi làm việc của nguồn nhân lực dược được thể hiện trong bảng sau [13]: Bảng 1.1 Phạm vi làm việc của nguồn nhân lực dược Phạm vi làm Cụ thể việc Các cơ quan Chuyên viên hoặc cán bộ quản lý các cơ quan thuộc bộ quản lý Nhà Y tế, sở Y tế. Chuyên viên hoặc cán bộ quán lý thuộc các nước bộ, sở, ban ngành có công tác liên quan đến y dược. Các đơn vị Cán bộ quản lý, giảng viên hoặc các nghiên cứu viên tại đào tạo nghiên các trường đào tạo y dược. Cán bộ quản lý, nghiên cứu cứu viên tại các viện nghiên cứu liên quan đến chuyên môn y dược.
Cơ sở khám Cán bộ quản lý hoặc chuyên viên tại các bộ phận chữa và chăm dược/sinh hóa tại các bệnh viện, các cơ sở khám chữa sóc sức khỏe bệnh. Chuyên gia về sử dụng thuốc tại bệnh viên, trung tâm truyền thông và các cơ sở khác. Các đơn vị sản Cán bộ quản lý hoặc chuyên viên tại các cơ sở sản xuất, kinh xuất/kinh doanh và phân phối thuốc, mỹ phẩm và thực doanh phẩm chức năng. Chuyên gia về các lĩnh vực marketing, kinh doanh thuốc.
Công tác đào tạo nhân lực DSĐH 1. Công tác đào tạo DSĐH ở Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam có nhiều trường Đại học đào tạo Dược sĩ như : 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Miền Bắc: ĐH Dược Hà Nội, Học viện Quân Y, ĐH Quốc Gia, ĐH Đại Nam, ĐH Thành Tây, ĐH Thành Đô, ĐH Y Dược Thái Nguyên, ĐH Y Dược Hải Phòng và các trường Cao đẳng, Trung cấp … - Miền Trung: Trường ĐH Y Dược Huế, ĐH Duy Tân. - Miền Nam: ĐH Dược Sài Gòn, ĐH Hồng Bàng, ĐH Nguyễn Tất Thành, ĐH Y Dược Cần Thơ,… Ở Việt Nam hiện nay để trở thành Dược sĩ sinh viên phải vào học tại các trường đại học đào tạo về dược thuộc hệ thống đào tạo nhân lực ngành Y tế, thời gian đào tạo là: 5 năm đối với sinh viên đào tạo chính quy dài hạn 4 năm với sinh viên đã có bằng trung cấp Dược, 2 năm 6 tháng đối với người có bằng cao đẳng (Dược sĩ chuyên tu) 2 năm đối với người có bằng đại học chính quy dài hạn các ngành bác sĩ y khoa, sinh học, hóa học (của các trường Đại học Khoa học tự nhiên, Bách khoa, Đại học Y - các trường có cùng đầu vào tương đương ). Chất lượng đào tạo Dược sĩ ở Việt Nam còn nhiều hạn chế.
Đầu vào các trường Đại học Dược rất cao nhưng quá trình học không có sự chọn lọc, số lượng đầu ra là tương đương. Thêm vào đó yêu cầu đào tạo liên tục bắt buộc để có chứng chỉ hành nghề với DSĐH chưa được triển khai rộng trên thực tế. Các chương trình đào tạo lại chưa hệ thống, chủ yếu triển khai theo chương trình và dự án khiến nhiều cán bộ ra trường hàng chục năm không được cập nhật lại kiến thức chuyên môn [18]. Yếu tố cầu nối giữa cơ sở đào tạo và nhân lực Dược nói chung và DSĐH nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế trên các vấn đề như: thông tin hướng nghiệp, đào tạo theo yêu cầu cơ sở, theo dõi việc làm sinh viên sau tốt nghiệp,…Tất cả nhằm hướng đến mục tiêu đào tạo nhân lực theo nhu cầu của ngành y tế và xã hội [19].
Công tác đào tạo DSĐH Khoa Y Dược - ĐHQG Hà Nội Với sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực y tế chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài dựa vào nghiên cứu, trên nền tảng khoa học cơ bản vững chắc, công nghệ cao và kinh tế - xã hội mũi nhọn, đóng góp tích cực trong đổi mới hệ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống giáo dục đại học Y, Dược ở Việt Nam. Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội xác định mục tiêu phát triển thành trường đại học định hướng nghiên cứu, thuộc nhóm đại học tiên tiến trong khu vực, đóng góp vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển nền khoa học sức khỏe của đất nước cũng như góp phần hoàn thiện mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực, dựa trên nền tảng khoa học cơ bản và công nghệ cao, hội nhập nhanh và toàn diện vào mái nhà chung của ĐHQGHN. Khoa Y Dược đã triển khai thành công mô hình đào tạo A + B: cho phép sinh viên dược học 2 năm cơ bản tại Trường Đại học Khoa học tự nhiên trước khi quay về Khoa Y Dược học kiến thức chuyên ngành với tổng 84 học phần tương đương 173 tín chỉ [15]. Mục tiêu đào tạo ngành Dược học là đào tạo các Dược sĩ - nhà Khoa học, có phẩm chất đạo đức tốt; có kiến thức về khoa học cơ bản, công nghệ cao và khoa học Dược vững chắc; có khả năng làm việc trong lĩnh vực Dược một cách chuyên nghiệp; có tầm nhìn và năng lực sáng tạo; có khả năng hội nhập tốt [15].
Tình hình nhân lực dược trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình nhân lực dược trên thế giới Về số lượng Theo khảo sát năm 2012 của Liên đoàn Dược phẩm Quốc tế (FIP) về mật độ nhân lực dược và hiệu thuốc dựa trên phân loại của ngân hàng thế giới cho thấy ở các Quốc gia có kinh tế thu nhập cao thì mật độ Dược sĩ và hiệu thuốc cao. Cơ hội và vai trò của Dược sĩ trong các Quốc gia có thu nhập cao lớn hơn so với các Quốc gia có thu nhập thấp [2]. Hiện nay để đánh giá khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực dược của mỗi quốc gia, người ta sử dụng chỉ số DS/10.
Năm 2012, chỉ số DS/10.000 dân của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới dao động từ 0,02 (Somalis) đến 25,07 (Malta), trung bình là 6,02 [25]. Chỉ số DS/10.000 dân của một số nước trên thế giới theo số liệu thống kê năm 2010 có sự chênh lệch rõ rệt. Cụ thể chỉ số DS/10.000 dân của một số nước trên thế giới được thể hiện trong bảng sau [31]: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.000 dân của một số nước trên thế giới năm 2010 STT Quốc gia Số DS/10.000 dân 1 Nhật Bản 13,6 2 Pháp 12,3 3 Hàn Quốc 12,1 4 Đức 12,0 5 Tây Ban Nha 10,7 6 Mỹ 9,0 7 Anh 6,6 8 Brazil 5,4 9 Thái Lan 3,0 10 Trung Quốc 2,5 11 Việt Nam 1,76 Về chất lượng và phân bố Nhân lực dược có sự phân bố khác nhau trong các lĩnh vực và từng khu vực lãnh thổ khác nhau. Ở châu Âu, Dược sĩ làm việc ở các hiệu thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 70%) còn ở Đông Nam Á, Dược sĩ làm việc trong lĩnh vực công nghiệp dược chiếm tỷ lệ cao (khoảng 30%) [25].
Tại Pháp, nhân lực dược chủ yếu được sử dụng để phục vụ sức khỏe cộng đồng, Dược sĩ đóng vai trò quan trọng trong việc trực tiếp hướng dẫn sử dụng thuốc [32]. Theo giáo sư Vasson thuộc trường đại học Claude Bernard Lyon thì tỷ lệ làm việc của DSĐH sau tốt nghiệp tại Pháp phân bố như sau [11]: - 65% làm việc tại các nhà thuốc - 12% làm dược bệnh viện - 13% làm các lĩnh vực liên quan đến sinh hóa và xét nghiệm - 5% trong lĩnh vực công nghiệp dược 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 5% làm lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy Ở Úc, một dự án nghiên cứu về nhân lực dược cho thấy từ năm 2002 đến năm 2008 tỷ lệ Dược sĩ nước Úc đã tăng 48% và tỷ lệ Kỹ thuật viên dược tăng 66%. Phần lớn nhân lực dược làm việc ở lĩnh vực dược cộng đồng. Ở lĩnh vực dược công, tỷ lệ Dược sĩ tăng 40%.800 Dược sĩ với 10,4 DS/10.
Dược sĩ bệnh viện chiếm khoảng 8%. Một nghiên cứu về nhu cầu Dược sĩ cho giai đoạn 2000 - 2010 đã chỉ ra có sự thiếu hụt khoảng 3.000 Dược sĩ vào năm 2010, trong đó thiếu hụt lớn nhất là khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa ở Úc [32].