CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY VÀ CƠ CHẾ “XUYÊN QUA MÀN CHE CÔNG TY” 1. Các đặc điểm pháp lý của công ty Xét ở góc độ pháp lý, khái niệm về công ty được quy định chung hoặc chi tiết ở rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau của từng quốc gia. Theo đó Điều 3 Luật công ty Trung Quốc 2018 định nghĩa về công ty như sau: “Công ty là một “pháp nhân doanh nghiệp” (“enterprise legal person”), có tài sản độc lập và được hưởng các quyền tài sản của công ty. Một công ty phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của mình trong phạm vi toàn bộ tài sản của mình.” Như vậy, theo Luật Trung Quốc thì công ty có các đặc điểm chính sau: (1) tư cách pháp nhân (2) có tài sản độc lập và (3) hưởng quyền và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của công ty.
Điều 1 Luật Doanh nghiệp Đài Loan 2009 cho rằng “Thuật ngữ công ty được sử dụng trong Luật này là một “pháp nhân công ty” (“corporate juristic person”) được tổ chức, đăng ký và thành lập theo quy định của Luật này với mục đích tạo ra lợi nhuận”. Bộ luật dân sự Pháp quy định rằng “công ty được thành lập bởi hai hoặc nhiều người cùng đồng ý bằng một hợp đồng để tài sản hoặc ngành của họ cho một liên doanh chung nhằm chia sẻ lợi ích hoặc thu lợi từ việc tiết kiệm có thể dẫn đến việc đó. Nó có thể được thành lập bởi một thành viên, trong những trường hợp do luật quy định, thông qua hành động ý chí của một người. Các thành viên tự ràng buộc mình để góp phần vào khoản lỗ”.
Việc xem sự hình thành công ty là một thỏa thuận hợp đồng rất phổ biến ở thế kỷ 19, thời điểm của quyền tự do hợp đồng phát triển mạnh mẽ. Năm 1990, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật Công ty nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh doanh trong nước. Điều 2 Luật Công ty (1990) định nghĩa: “Công ty TNHH và công ty cổ phần gọi chung là công ty, là doanh 11 nghiệp trong đó các thành viên đều góp vốn, cùng nhau chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty”. Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2020 cũng ghi nhận về định nghĩa công ty, theo đó, khoản 6 Điều 4 Luật Doanh nghiệp Việt Nam quy định “Công ty bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh”.
Hơn nữa, Luật Doanh nghiệp 2020 không đưa ra định nghĩa chung về công ty như Luật Công ty 1990 trước đó, mà đưa ra khái niệm cụ thể các loại hình công ty, cụ thể: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được quy định tại khoản 1, Điều 46; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (khoản 1 Điều 74); Công ty cổ phần (khoản 1, Điều 111); Công ty hợp danh (khoản 1 Điều 177). Như vậy, về cơ bản, công ty là một tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật dựa trên sự thỏa thuận của các bên, với mục đích tạo ra lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh. Công ty ra đời với những đặc điểm pháp lý đặc trưng nhằm phân biệt với các mô hình kinh doanh khác, có thể kể đến hai đặc điểm chính gắn liền với lịch sử hình thành công ty là “tư cách pháp nhân” (“legal personality”) và “tính trách nhiệm hữu hạn” (“limited liability”) của thành viên và cổ đông trong công ty. Tư cách pháp nhân Trước khi tìm hiểu tư cách pháp nhân của công ty, định nghĩa về tư cách pháp nhân trong Luật được hiểu là “bất cứ người hay chủ thể nào có thể làm những việc mà một người thường có thể làm trong luật – chẳng hạn như giao kết hợp đồng, khởi kiện và bị kiện, sở hữu tài sản,.”7 Thuật ngữ pháp nhân ra đời bởi sự xuất hiện của những chủ thể là các công ty và tập đoàn hay những cơ quan chính phủ, chúng tương tự như các “cá nhân” về mặt pháp lý, bởi có đủ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp như một người bình thường có thể làm, nhưng rõ ràng là hành vi của chúng thực chất được những chủ thể tạo 7 Elizabeth A.
Oxford Dictionary of Law (7th ed. Oxford: Oxford University Press. 12 ra chúng hành động, và mặc dù được xem là một thực thể pháp lý (“legal entity”), tuy nhiên chúng lại không có tứ chi, ngũ quan8 như những cá nhân khác. Theo đó, việc công ty được xem là có tư cách pháp nhân phải trải qua một thời kỳ dài nghiên cứu và lập luận theo các học thuyết của các nhà làm luật dựa trên sự công nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức.
Trong đó, có thể kể đến hai quan điểm chính về tư cách pháp nhân của công ty được luật pháp các quốc gia áp dụng làm tiền đề để giải quyết các tranh chấp sau này: một là quan điểm công ty được xem là một loại hợp đồng, hai là công ty được thành lập khi được Chính phủ và luật pháp trao quyền. Trước đó, vào cuối thời kỳ La Mã, luật thừa nhận có hai loại pháp nhân tư pháp: “universitates personarum”, gồm những người có cùng các hoạt động nghề nghiệp; và “universitates bonorum”, để chỉ những nhóm người hoạt động trong các lĩnh vực từ thiện hoặc phúc lợi chung. Như vậy, có thể thấy yếu tố pháp nhân được thành lập vì một mục đích hoạt động chung đã được thừa nhận rộng rãi ở thời kỳ La Mã cổ đại, tuy nhiên thời kỳ này chính quyền La Mã chỉ cấp giấy phép cho các nhóm người hoạt động không vụ lợi và những nhóm hoạt động có thu lợi nhuận mà có quan hệ với Nhà nước hoặc giữ một vai trò công cộng9. Có thể thấy cách tiếp cận của Luật La Mã thời kì này không thừa nhận tư cách pháp nhân cho các hội hoạt động để thu lợi nhuận cho riêng mình, tương ứng với các công ty thương mại trong luật đương đại10.
Theo đó công ty được xem là những cá nhân hình thành từ các hợp đồng lập công ty, bản chất là một loại “hợp đồng song vụ hoàn hảo”11. Các bên khi tham gia vào hợp đồng này, đều có quyền và nghĩa vụ đối nhau, cùng góp vốn của mình thành lập công ty, hành động và đưa ra những phương hướng nhằm mục đích đem lại lợi nhuận cho công ty. Bên cạnh đó, hoạt động của công ty sẽ đem lại lợi nhuận cho các cá nhân nhờ việc khai thác tài sản góp vào. Do đó, có thể 8 Lê Ngọc Cẩm (2013), Học thuyết “xuyên màn trách nhiệm hữu hạn công ty”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.
9 Nguyễn Ngọc Điện (2016), “Giáo trình Luật dân sự”, Tập 1, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 10 Nguyễn Ngọc Điện (2016), tlđd, (10). 11 Nguyễn Ngọc Điện (2009), “Giáo trình Luật La Mã”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.
13 nói các bên đều có quyền lợi và nghĩa vụ gắn liền với hoạt động của công ty. Tiếp cận từ tư tưởng của luật La Mã cổ đại cùng với việc dựa trên những sự kiện pháp lý trên thực tế, “học thuyết thực tại” (“Group Personality Theory or Realist Sociological Theory”) ra đời và được các nước theo hệ thống “civil law” ủng hộ. Theo đó, học thuyết này được đưa ra bởi Johannes Althusius và sau đó được Otto Van Gierke tiếp tục phát triển. Các nhà lập pháp này cho rằng mọi tập thể đều có ý chí, hành động và suy nghĩ thực sự, do đó trên thực tế các tập thể này đã được tồn tại một cách độc lập và có thật mà không phải do lập pháp tạo ra dựa trên những quy định.
Do đó, các tập thể có thực sự tồn tại hay không hoàn toàn không phụ thuộc vào việc nó có được Nhà nước công nhận hay không12. Gierke tin rằng sự tồn tại của một công ty là có thật và không dựa trên bất kỳ điều hư cấu nào13. Ông nói thêm rằng luật không có quyền tạo ra một thực thể mà chỉ đơn thuần có quyền công nhận hoặc không công nhận một thực thể. Tiếp cận học thuyết này đồng nghĩa với việc công ty được xem là một sự thỏa thuận giữa các bên, mặc dù chịu sự điều chỉnh của pháp luật, tuy nhiên sự tự do ý chí của các bên vẫn là ưu tiên hàng đầu.
Do đó, về cơ bản pháp luật chỉ can thiệp trong một số trường hợp có sự vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ cơ bản công ty. Trong khi đó, những người theo trường phải giả tưởng (“fiction theory”), ghi nhận rằng “pháp nhân là một thứ giả tưởng, không có thật do luật pháp tạo ra nó, không thấy được, chỉ tồn tại theo những quy định của pháp luật mà thôi”14. Theo đó, công ty không phải là một thực thể thật sự, không có bất kỳ nhân cách (“personality”) nào của riêng nó. Các nhà lập pháp cho rằng, khi nào công ty đáp ứng các yêu cầu của Đạo luật Công ty, nó sẽ trở thành một pháp nhân, độc lập và khác biệt với các thành viên của nó15.
Như 12 “Theories of juristic personality”, By Mayank Shekhar, September 24, 2016, xem tại https://www.in/theories-juristic-personality, truy cập ngày 11/04/2021. Barker, ‘Introduction’, in: O. Gierke, Natural Law and the Theory of Society, edited and translated by E. 14 Ngô Hồng Quang (2014), tlđd, (4).
15 Vijay Sardana, “Jurisprudence - Theories of Legal Personalities” xem tại http://lawnotesforstudents.com/2017/05/jurisprudence-theories-of-legal.html, truy cập ngày 27/03/2021. 14 vậy, quyền và nghĩa vụ của công ty hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ mà luật áp dụng cho nó bởi sự hư cấu như một người nhân tạo (“artificial person”), do đó những quyền và nghĩa vụ này không cố định mà có thể thay đổi dựa trên sự quy định của Nhà nước16. Tòa án Anh đã chấp nhận học thuyết này trong một vụ án nổi tiếng của Salomon vs Salomon Co. Chính phán quyết này đã góp phần thừa nhận một cách chính thức công ty có tư cách pháp nhân.
Tóm tắt vụ án như sau: Theo đó, Ông Salomon kinh doanh giày ống và giày da. Năm 1892, ông thành lập công ty “Salomon and Company Ltd”. Vì Đạo luật Công ty yêu cầu vào thời điểm đó rằng phải có bảy cổ đông cho nên các thành viên của gia đình ông đều phải nắm giữ cổ phần, cụ thể Salomon, vợ và 5 người con của ông, mỗi người một cổ phần trong công ty và trong đó, Salomon đảm nhận vị trí là giám đốc điều hành của công ty. Sau đó, công ty mua lại công việc kinh doanh của chính ông Salomon với giá 39.