Chương 1: Điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ đối với các viện nghiên cứu công lập Chương 2: Thực trạng điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tại Viện Kinh tế Tài chính (Học viện Tài chính) giai đoạn 2015-2020 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tại Viện Kinh tế Tài chính (Học viện Tài chính) giai đoạn 2021-2025 iii CHƢƠNG 1. ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ ĐỐI VỚI CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG LẬP 1. Tổng quan về viện nghiên cứu khoa học công lập (viện NCKHCL) Khái niệm, phân loại viện NCKHCL Khái niệm Viện NCKHCL là tổ chức KH&CN do cơ quan có thẩm quyền về lập pháp, hành pháp từ Trung ương đến địa phương cấp tỉnh các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, thành lập và đầu tư, với tôn chỉ hoạt động là cung cấp dich vụ, sản phẩm KH&CN đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cơ quan chủ quản đề ra. Phân loại viện NCKHCL Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp và chi hoạt động thƣờng xuyên Hệ thống viện nghiên cứu được phân thành viện NCKHCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; viện NCKHCL tự bảo đảm chi thường xuyên viện NCKHCL tự bảo đảm một phần chi thường; viện NCKHCL do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.
Căn cứ vào nội dung hoạt động Hệ thống viện NCKHCL được phân thành viện nghiên cứu cơ bản (Viện Hàn lâm); và viện nghiên cứu chiến lược (Viện Chiến lược thuộc các bộ, ngành); viện nghiên cứu ứng dụng Căn cứ vào đối tƣợng khách hàng Hệ thống viện NCKHCL được phân thành viện nghiên cứu công ích, viện nghiên cứu phục vụ sản xuất Đặc điểm hoạt động KH&CN trong các viện NCKHCL Đặc điểm chung Hoạt động KH&CN có các đặc trưng: tính sáng tạo, tính rủi ro; tính kế thừa; tính khách quan. Các đặc điểm trên của hoạt động KH&CN có liên hệ với nhau, không thể chia cắt. iv Đặc điểm riêng Dưới sự quản lý và giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền; Hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không quá vì lợi nhuận; Sản phẩm NCKH mang lợi ích chung và có tính lâu dài. Vai trò viện NCKHCL với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Cung cấp dịch vụ công về KH&CN có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của đời sống kinh tế - xã hội Giữ vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất, thực hiện các đề án, chương trình lớn phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội Thúc đẩy sự phân phối cân bằng nguồn lực giữa các lĩnh vực, sản phẩm NCKH 1. Cơ sở lý thuyết của việc chuyển sang cơ chế tự chủ đối với các viện NCKHCL Khái niệm về cơ chế tự chủ và cơ sở lý thuyết của cơ chế tự chủ Khái niệm về cơ chế tự chủ Cơ chế tự chủ là cách thức mà một đối tượng hoặc một đơn vị chủ động xây dựng và thực hiện các phương án điều hành, quản lý mọi công việc mà không bị cá nhân, tổ chức khác chi phối, kiểm soát quá mức. Lý thuyết về cơ chế tự chủ Cơ chế tự chủ của viện NCKHCL được hình thành dưa trên mô hình quản lý theo kết quả (RBM). Đó là một phương thức quản lý mà thông qua đó nhà quản lý xác định các kết quả cần đạt được một cách cụ thể, rõ ràng và dài hạn, định hướng tất cả các nỗ lực và hoạt động vào việc đạt được các kết quả một cách hiệu lực và hiệu quả.
Mô hình RBM mang lại nhiều tác động tích cực với đơn vị sự nghiệp công như: i) xác định cho cơ quan, tổ chức một tầm nhìn bao quát và dài hạn, thúc đẩy trao quyền tự chủ toàn diện về các mặt cơ chế hoạt động, nhân sự và tổ chức bộ máy, tài chính cho khối ĐVSNCL; ii) bảo đảm cơ quan, tổ chức hoạt động một cách hiệu lực, tập trung vào các kết quả thay vì chỉ tập trung vào những hành vi và hoạt v động; iii) tối ưu hoá các hoạt động của cơ quan, tổ chức, liên kết các hoạt động và các quá trình của cơ quan, tổ chức với mục tiêu chung của cơ quan, tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức… Điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tại viện NCKHCL a. Về cơ chế hoạt động Mức độ tự chủ về cơ chế hoạt động biểu hiện ở khả năng chủ động của viện nghiên cứu trong việc xây dựng chiến lược phát triển của mình phù hợp với tôn chỉ mục đích ban đầu của các nhà sáng lập, đảm bảo sự phát triển đúng hướng viện mong muốn. Trong đó: Để đảm bảo tự chủ hoàn toàn về học thuật, cơ chế hoạt động, thông qua Hội đồng khoa học của mình, viện NCKHCL phải được độc lập, chủ động hoàn toàn với cơ quan chủ quản trong việc xây dựng, triển khai quyết định kế hoạch NCKH, chuyển giao công nghệ theo đúng chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động của mình. Đồng thời cơ chế liên kết chặt chẽ giữa NCKH với hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc ứng dụng sản phẩm KH&CN có khả năng thương mại hóa, mang lại nguồn thu lâu dài cho đơn vị Trong khi đó, với cấp độ đảm bảo tự chủ một phần, cơ chế hoạt động, viện NCKHCL chủ động một phần trong việc xây dựng, triển khai quyết định kế hoạch NCKH, chuyển giao công nghệ theo đúng chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động của mình, dưới sự phê duyệt thẩm định, giám sát của cơ quan chủ quản.
Với mức độ không đảm bảo tự chủ, cơ quan chủ quản quyết định việc xây dựng, triển khai quyết định kế hoạch NCKH, chuyển giao công nghệ của viện NCKHCL theo đúng chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động của đơn vị. Về tổ chức bộ máy, nhân sự Mức độ đảm bảo điều kiện tự chủ về bộ máy, nhân sự của viện NCKHCL phụ thuộc vào sự độc lập của đơn vị trong việc xây dựng, triển khai phương án quản trị nhận sự của mình trong tất cả các khâu, Theo đó: Để đảm bảo tự chủ hoàn toàn về nhân sự, viện NCKHCL phải được độc lập, chủ động hoàn toàn trong việc xây dựng tiêu chí, kịch bản và triển khai phương vi án quản lý NCV, chuyên viên trong tất cả các khâu từ tuyển dụng, đánh giá, đào tạo bồi dưỡng đến quy hoạch, bổ nhiệm, áp dụng cơ chế thanh toán thu nhập, đãi ngộ, cùng với việc tái cấu trúc phòng ban căn cứ vào yêu cầu công việc, và khả năng tài chính của mình. Trong khi đó, để đảm bảo tự chủ một phần, viện NCKHCL phải được độc lập, chủ động hoàn toàn trong việc xây dựng và triển khai phương án quản lý NCV, chuyên viên trong tất cả các khâu từ tuyển dụng, đánh giá, đào tạo bồi dưỡng đến quy hoạch, bổ nhiệm, áp dụng cơ chế thanh toán thu nhập, đãi ngộ, cùng với việc tái cấu trúc phòng ban căn cứ vào yêu cầu công việc, và khả năng tài chính của mình. Với mức độ không đảm bảo tự chủ, việc xây dựng và triển khai phương án quản lý NCV, chuyên viên trong tất cả các khâu từ tuyển dụng, đánh giá, đào tạo bồi dưỡng đến quy hoạch, bổ nhiệm, áp dụng cơ chế thanh toán thu nhập, đãi ngộ, cùng với việc tái cấu trúc phòng ban của viện NCKHCL đều do cơ quan chủ quản thực hiện căn cứ vào yêu cầu công việc, và khả năng tài chính của đơn vị.
Những viện NCKHCL thuộc nhóm này không xây dựng đề án vị trí việc làm, cơ cấu chức danh, nghề nghiệp của riêng mình. Về tài chính Để đo lường và phản ánh mức độ đảm bảo điều kiện tự chủ về tài chính đối với các viện NCKHCL, hệ thống các tiêu chí có tính chất định lượng về quy mô, tỷ trọng nguồn thu từ NSNN, thu từ dịch vụ, mức độ tự bảo đảm chi thường xuyên được sử dụng để đánh giá khả năng tự chủ với NSNN của hoạt động tài chính tại đơn vị. Trong đó: Mức độ tự bảo đảm chi thường xuyên = % Với mức đảm bảo TCTC hoàn toàn cả về chi thƣờng xuyên và chi đầu tƣ, quy mô nguồn thu sự nghiệp từ hoạt động NCKH của viện NCKHCL phải vượt quy mô chi thường xuyên. Hay có thể hiểu, với những đơn vị thuộc nhóm này, chỉ tiêu đánh giá mức độ đảm bảo chi thường xuyên theo công thức tại phần 1.1 phải vii vượt trên 100%; toàn bộ chi thường xuyên từ nguồn thu hoạt động sự nghiệp và tự bảo đảm chi đầu tư từ nguồn thu sự nghiệp.
Trong khi đó, để bảo đảm hoàn toàn chi thƣờng xuyên, quy mô nguồn thu sự nghiệp từ hoạt động NCKH của viện NCKHCL thuộc nhóm này phải bằng quy mô chi thường xuyên đảm bảo hoàn toàn kinh phí hoạt động thường xuyên. Hay có thể hiểu, với những đơn vị thuộc nhóm này, chỉ tiêu đánh giá mức độ đảm bảo chi thường xuyên theo công thức tại phần 1.1 phải bằng 100%; tự bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên Với mức bảo đảm một phần chi thƣờng xuyên, quy mô nguồn sự nghiệp từ hoạt động NCKH của viện NCKHCL thuộc nhóm này bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên với tỷ lệ đảm bảo tối thiểu đạt 10% chi thường xuyên, phần còn lại được NSNN hỗ trợ. Hay có thể hiểu, với những đơn vị thuộc nhóm này, chỉ tiêu xác định mức độ đảm bảo chi thường xuyên tại mục 1.1 phải trong khoảng 10% - 100%. Với mức độ do Nhà nƣớc bảo đảm chi thƣờng xuyên, nguồn thu sự nghiệp từ hoạt động NCKH của viện NCKHCL thuộc nhóm này rất thấp, thâm chí không có, toàn bộ kinh phí chi thường xuyên của đơn vị này là do NSNN hỗ trợ.
bảo đảm một phần chi thường xuyên, phần còn lại được NSNN hỗ trợ. Hay có thể hiểu, với những đơn vị thuộc nhóm này, chỉ tiêu xác định mức độ đảm bảo chi thường xuyên tại mục 1. Như vậy, để đảm bảo điều kiện TCTC, viện NCKHCL phải có nguồn thu sự nghiệp từ hoạt động NCKH, đặc biệt là từ ngoài NSNN và quy mô nguồn thu này phải đảm bảo một phần kinh phí hoạt động, hay tối thiểu bằng 10% quy mô chi thường xuyên của đơn vị. Các nhân tố chi phối điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tại viện NCKHCL Nhân tố chủ quan gồn loại hình, lĩnh vực hoạt động, chức năng nhiệm vụ của đơn vị, nhận thức của cán bộ viên chức về tự chủ viện NCKHCL và công tác kiểm soát, kiểm tra tài chính – kế toán nội bộ.