Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế quản lý ngân sách xã Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý ngân sách xã ở tỉnh Nam Định Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách xã. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ 1. Ngân sách xã và vai trò của ngân sách xã trong phát triển kinh tế-xã hội nông thôn Việt Nam 1. Quan niệm chung về ngân sách xã Ngân sách xã là một phạm trù lịch sử phản ánh các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nƣớc và nhân dân trong quá trình khai thác, huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo duy trì, thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc ở chính quyền cơ sở (xã, phƣờng, thị trấn).
Ở nƣớc ta, ngân sách xã là một cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách nhà nƣớc. Căn cứ vào Luật ngân sách Nhà nƣớc năm 1996, Luật ngân sách sửa đổi năm 2002 và các văn bản hƣớng dẫn thi hành luật; hệ thống ngân sách của Việt Nam bao gồm ngân sách Trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng; trong đó, ngân sách địa phƣơng gồm: Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (gọi chung là ngân sách tỉnh); Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện); Ngân sách các xã, phƣờng, thị trấn trực thuộc huyện (gọi chung là ngân sách xã). Là một bộ phận của ngân sách nhà nƣớc, ngân sách xã là cấp ngân sách của chính quyền cơ sở do Uỷ ban nhân dân xã, phƣờng, thị trấn xây dựng, quản lý và sử dụng; do Hội đồng nhân dân xã quyết định và giám sát quá trình tổ chức thực hiện. Ngân sách xã đƣợc xây dựng trên cơ sở các nguồn thu của xã đƣợc phân cấp (kể cả nguồn trợ cấp của ngân sách cấp trên) và chỉ thực hiện các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của chính quyền xã theo qui định.
5 Nhƣ vậy, bản chất của ngân sách xã là phạm trù lịch sử phản ánh hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nƣớc và nhân dân trong quá trình Nhà nƣớc khai thác, huy động và sử dụng các nguồn lực nhằm đảm bảo sự duy trì và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc ở cấp chính quyền cơ sở. Ngân sách xã trong tiến trình lịch sử Việt Nam Ngân sách xã đƣợc thể chế hoá là một cấp ngân sách và quản lý thống nhất vào Ngân sách nhà nƣớc khi Luật ngân sách ra đời nhƣng trong lịch sử phát triển ở Việt Nam, từ rất lâu đã có quỹ xã mà qua quá trình phát triển đến nay gọi là ngân sách xã. Quá trình hình thành cũng nhƣ cơ chế quản lý quỹ xã ở nƣớc ta trong những giai đoạn phát triển khác nhau có thể có những cơ chế quản lý khác nhau nhƣng quỹ xã (ngân sách xã) luôn luôn là một bộ phận không thể thiếu của hệ thống tài chính quốc gia. Xét trên quan điểm lịch sử, ngân sách xã là một phạm trù lịch sử đƣợc thể hiện qua sự hình thành, phát triển của ngân sách xã trong suốt tiến trình lịch sử Việt Nam.
Lịch sử hình thành, phát triển ngân sách cấp xã ở Việt nam gắn liến với quá trình hình thành, phát triển của hệ thống làng, xã. Đơn vị hành chính cấp xã xuất hiện tại nƣớc ta đầu tiên vào triều đại nhà Đƣờng xâm lƣợc và thống trị. Sau đó phát triển đến buổi đầu kỷ nguyên tự chủ của đất nƣớc, đơn vị hành chính cấp xã đã trở thành một trong năm cấp hành chính cơ bản của nhà nƣớc phong kiến Việt Nam là: Lộ, Phủ, Châu, Giáp, Xã. Đi cùng với sự hình thành làng, xã Viêt Nam là sự hình thành thiết chế quản lý làng, xã.
Thời nhà Trần, triều đình đã đặt ra các chức quan trông coi cấp hành chính cơ sở này và gọi là các Xã quan. Các xã quan nắm chính quyền cơ sở thời đó gồm có các chức nhƣ Đại tƣ xã, Tiểu tƣ xã, Xã trƣởng, Xã giám. Theo thời gian, hệ thống thiết chế quản lý làng xã Việt Nam dần đƣợc củng cổ, phát triển từ giai đoạn sơ khai cho đến khi hình thành đƣợc một thiết chế tƣơng đối hoàn chỉnh vào thời trung cổ. Đến cuối thời trung cổ, bộ máy quản lý làng xã của nƣớc ta gồm có hai hội đồng là: (1) Hội đồng kỳ mục chịu trách nhiệm quản lý xã, thôn cổ truyền, 6 có toàn quyền quyết định các công việc của làng, xã; (2) Hội đồng Lý dịch đại diện cho bộ máy Nhà nƣớc phong kiến ở làng xã do dân bầu ra và đƣợc nhà nƣớc công nhận để chịu trách nhiệm thi hành các công việc liên quan đến sƣu, thuế, binh, dịch ở làng xã.
Bộ máy quản trị này ngoài việc thực hiện các chức năng quản lý chung của làng xã còn chịu trách nhiệm về các vấn đề nhƣ: sƣu, thuế, quỹ làng; chi tiêu của làng; các khoản phụ thu, lạm bổ.Đây chính là các vấn đề cơ bản của ngân sách cấp xã. Thực tế, làng xã cổ truyền Việt Nam là một cấp hành chính có tính tự tồn, tự trị, tự quản cao và đƣợc điều hành bởi bộ máy quản trị riêng nên việc hình thành ngân quĩ xã là tất yếu để duy trì sự tồn tại của bộ máy quản lý cũng nhƣ để phục vụ cho các công việc chung của làng, xã. Cơ chế quản lý ngân sách xã (hay gọi là qũi xã) thời kỳ phong kiến thƣờng đƣợc qui định và ghi trong “hƣơng ƣớc” của làng, xã nên ở mỗi xã khác nhau thƣờng có qui định khác nhau về lĩnh vực tài chính xã. Tuy nhiên, ngân sách xã thời kỳ này cùng có chung những biểu hiện đặc trƣng là: tính tuỳ tiện và tính hà lạm.
(1) Tính tuỳ tiện đƣợc hiểu là: Do nguồn kinh phí để tạo nên ngân sách xã thời phong kiến chỉ hạn chế ở các khoản thu trong làng, trong xã nên giới chức sắc xã đã dùng mọi phƣơng sách và cụ thể hoá thành “lệ làng” hoặc văn bản hoá trong “hƣơng ƣớc” để tận thu ngân sách. “Phạt vạ” là giải pháp chủ yếu và đƣợc các xã quan sử dụng thƣờng xuyên để tận thu. Có vô vàn lý do đƣợc tuỳ tiện đặt ra để phạt vạ; từ những việc nhỏ nhƣ đánh chửi nhau đến những hành vi phạm pháp luật đều bị phạt vạ miễn là có thu đóng góp vào quỹ làng, quỹ xã. (2) Tính hà lạm đƣợc hiểu là: Các chức sắc, chức dịch “hà lạm” vào công quĩ nhƣ đặt ra các khoản “phụ thu, lạm bổ” tức là thu dôi ra từ thuế ruộng đất nói chung để nhập vào quĩ làng hoặc bớt xét “quốc gia công điền, công thổ” mang bán để vơ vét cho ngân sách làng xã.
Tính tuỳ tiện càng đƣợc thể hiện rõ hơn trong quản lý, sử dụng chi ngân sách xã. Quĩ làng, quĩ xã chủ yếu dùng chi trả thù lao cho các chức sắc, chức dịch làng xã hoặc để phục vụ cho việc ăn uống của giới quan lại. Chỉ có ngƣời dân 7 thấp cổ, bé họng bị tròng vào cổ các gánh nặng thuế má là khổ sở phục vụ cho tầng lớp quan lại. Nhìn chung, công tác quản lý ngân sách xã thời kỳ phong kiến vừa thiếu chặt chẽ, thiếu thống nhất vừa không phát huy đƣợc vai trò của ngân sách xã đối với phát triển kinh tế, xã hội làng xã.
Đến thời kỳ Pháp thuộc, cơ chế quản lý ngân sách xã có vẻ chặt chẽ hơn khi chính quyền thực dân cai trị đã chú ý đến việc can thiệp để giảm bớt “tính tuỳ tiện”, “tính hà lạm” là đặc trƣng của ngân sách xã thời kỳ trƣớc nhƣ qui định phải mở sổ sách theo dõi thu – chi ngân sách hoặc phải lập sổ dự kiến chi tiêu của làng xã. Nguồn thu ngân sách cấp xã thời Pháp thuộc chủ yếu dựa vào hoa lợi công điền, công thổ hoặc một phần dựa vào phần lạm thu, lạm bổ trong các thứ thuế do phong kiến, thực dân đề ra hoặc do sự đóng góp của nhân dân theo hƣơng ƣớc của làng, xã. Nội dung chi ngân sách chủ yếu là phục vụ cho các công việc tạp dịch, lễ bái, trả thù lao cho các chức sắc làng xã hoặc dùng vào xây, sửa đình, chùa, miếu mạo và một số công trình phúc lợi cho nhân dân. Thời kỳ sau cách mạng tháng 8 có sự chuyển biến mạnh về ngân sách xã.
Các khoản sƣu cao, thuế nặng đã bị bãi bỏ dù Nhà nƣớc vẫn giữ lại một số khoản thu công điền, công thổ để phục vụ cho cứu tế xã hội hoặc thiên tai, lũ lụt. Cán bộ xã thời kỳ này “ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng” phục vụ cho Nhà nƣớc. Về quản lý ngân sách xã thời kỳ này có điểm đáng chú ý là sự xuất hiện việc ra đời mô hình Hợp tác xã nông nghiệp từ thấp đến cao nên đã choán hết công việc của chính quyền cấp xã. Do ruộng đất là tƣ liệu sản xuất quan trọng của Nhà nƣớc ở cơ sở đƣợc tập trung cho Hợp tác xã quản lý nên thực lực kinh tế đều do Hợp tác xã nắm giữ.
Kinh phí để duy trì các hoạt động của chính quyền, Đảng, đoàn thể phải dựa vào hợp tác xã và bị chi phối bởi thu nhập của Hợp tác xã thấp hay cao. Do vậy, Ngân sách xã không có cơ sở để ổn định và phát triển. Chỉ đến khi Nhà nƣớc có quyết định số 184/TTg ngày 8/4/1954 phân cấp cho xã một số khoản thu - chi và nhất là khi Nghị định số 168/CP ngày 20/10/1961 ra đời thì ngân sách xã mới thực sự đƣợc 8 hình thành một cách rõ rệt nhƣng do khả năng, năng lực ban đầu chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu quản lý nên chƣa đƣa vào hệ thống Ngân sách nhà nƣớc. Khi đƣợc hình thành, ngân sách xã dần dần lấy lại vai trò của mình và bƣớc đầu là công cụ, phƣơng tiện vật chất góp phần đáng kể vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nƣớc.
Đến năm 1972, khi Chính phủ ban hành Nghị định số 64/CP ngày 08/4/1972 về Điều lệ ngân sách xã từ đó ngân sách xã thực sự đƣợc quản lý theo các quy định thống nhất của Nhà nƣớc. Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nƣớc, nƣớc ta vẫn tiếp tục duy trì cơ chế quản lý ngân sách xã theo qui định của Điều lệ ngân sách xã ban hành năm 1972.