CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY 1. KHÁI NIỆM CƠ CHẾ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY 1.1 Cơ chế hỗ trợ tài chính 1.1 Khái niệm cơ chế Theo từ điển bách khoa toàn thư mở, từ “cơ chế” là chuyển ngữ của từ mécanisme của phương Tây. Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là “cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau”. Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”.
Từ “cơ chế” được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối những năm 1970, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là những quy định về quản lý. Cách hiểu đơn giản này dẫn tới cách hiểu tách rời cơ chế với con người như nêu trên. Khái niệm về “cơ chế kinh doanh của xã hội xã hội chủ nghĩa” sử dụng trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây được hiểu là phương thức tổ chức có kế hoạch nền sản xuất xã hội; toàn bộ các hình thức và phương pháp kinh doanh, bao gồm trước hết các kế hoạch nhà nước về phát triển kinh tế xã hội, hạch toán kinh tế, các đòn bẩy và kích thích kinh tế, cơ cấu tổ chức quản lý, các hình thức tham gia của quần chúng vào việc quản lý sản xuất. Kinh tế học hiện đại theo lý thuyết của nhà kinh tế học người Mỹ, Paul A.
Samuelson cho rằng “cơ chế thị trường” là một cơ chế trong đó các chủ thể tham gia tự đưa ra các quyết định về sản xuất và tiêu dùng dựa trên những tính toán của họ về nguồn lực mà mình đang nắm giữ. Như vậy, khái niệm “cơ chế” dù ở nghĩa chung nhất, hay được vận dụng ở cấp độ vĩ mô đều có một điểm chung là nhằm hoàn thành công việc ở trong một hệ thống hoặc một tổ chức. Trong hệ thống đó, các bộ phận cấu thành tham gia vào 9 “cơ chế” ở các mức độ khác nhau tuỳ theo khả năng và trách nhiệm của chúng. Điều đó có nghĩa là các bộ phận của hệ thống hoặc tổ chức đều liên quan đến “cơ chế” của nó và cùng thực hiện những quy định của “cơ chế”.
“Cơ chế” còn được hiểu theo khái niệm của trường phái kinh tế học với học thuyết tiêu biểu “Thiết kế cơ chế kinh tế”, sáng lập bởi một nhà kinh tế học người Mỹ gốc Nga là Leonid Hurwicz (1917 - 2008). Học thuyết thiết kế cơ chế do Leonid Hurwicz khởi xướng và được Eric Maskin và Roger Myerson chọn lọc áp dụng, cung cấp những công cụ phân tích và trả lời các câu hỏi: Cơ chế giao dịch nào sẽ giúp thu được kết quả lớn nhất? Cơ chế giao dịch nào sẽ tối đa hóa thu nhập mong đợi của người bán? Trình tự ra quyết định tập thể nào sẽ thành công trong việc thực hiện các dự án liên kết trong khi từ chối các nguồn quỹ cho những dự án không mong muốn? Cơ chế bảo hiểm nào sẽ mang lại phạm vi bảo hiểm rộng nhất mà không bị thiệt hại? Những nghiên cứu đột phá của các nhà khoa học này là nòng cốt để xem xét các chủ thể kinh tế hoạt động như thế nào trong những điều kiện khác nhau của thị trường và xã hội từ đó nhằm phác thảo ra cơ chế tốt nhất đảm bảo đạt được các mục tiêu, chẳng hạn, phúc lợi xã hội tối ưu, hoặc lợi nhuận cá nhân tối đa. Tóm lại, khái niệm “cơ chế” là một khái niệm rộng và được ứng dụng trong nhiều ngành khoa học khác nhau, từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội. Trong ngành kinh tế học, khái niệm “cơ chế” cũng được nghiên cứu và sử dụng khác nhau tuỳ vào mục đích và đối tượng nghiên cứu của các nhánh kinh tế học khác nhau.
Những tiếp cận về kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô hay lý thuyết trò chơi, lý thuyết kinh tế chính trị truyền thống mặc dù có những điểm khác biệt nhưng giữa chúng có một điểm chung là khi nói đến “cơ chế” là nói đến nội bộ của một hệ thống hay một tổ chức. Hơn nữa, khi đề cập đến “cơ chế” thì hàm ý đến sự tương tác qua lại giữa các chủ thể của “cơ chế”.2 Khái niệm cơ chế hỗ trợ tài chính Cơ chế hỗ trợ tài chính là hệ thống các hình thức, phương pháp, biện pháp và các công cụ tài chính mà Nhà nước tác động vào sự vận hành của hệ thống tài chính 10 và các quan hệ phân phối tài chính, nhằm đạt tới những mục tiêu hỗ trợ về mặt tài chính cho một đối tượng nhất định, được xác định bởi vai trò kinh tế Nhà nước. Cơ chế hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước đối với một đối tượng nhất định bao gồm sử dụng nhiều cách thức khác nhau để thực hiện mục tiêu của nhà nước. Cơ chế hỗ trợ tài chính có thể bao gồm các công cụ từ ngân sách nhà nước như thuế hoặc chi ngân sách nhà nước, tín dụng nhà nước, thị trường tài chính như thị trường tín dụng ngân hàng và thị trường vốn.
Ngoài ra, các hình thức biện pháp mà nhà nước sử dụng như các chính sách vĩ mô bao gồm chính sách thương mại, chính sách đất đai, chính sách công nghệ và đào tạo. Ví dụ như Ngân hàng chính sách xã hội là tổ chức tín dụng của Nhà nước, hoạt động vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, không vì mục đích lợi nhuận. Trải qua 10 năm hoạt động, nguồn vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội đã giúp 21,4 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách tiếp cận vốn vay ưu đãi, với mức dư nợ bình quân 16 triệu đồng/khách hàng, giúp 2,9 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo, thu hút gần 2,6 triệu lượt người lao động có việc làm, hơn 3 triệu học sinh, sinh viên được vay vốn học tập, xây dựng trên 4,2 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, 88 nghìn căn nhà cho hộ gia đình vượt lũ đồng bằng sông Cửu Long và 484 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách cho vay ưu đãi người nghèo của Ngân hàng chính sách. Ngoài ra, nhà nước cũng thành lập các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, xây dựng các chính sách hỗ trợ ưu đãi phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường.2 Hoạt động cho vay Hoạt động cho vay là một hình thái của hỗ trợ tài chính.
Đối với nhà nước thì cho vay là một hình thức tín dụng nhà nước. Đối với ngân hàng thương mại, cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu để tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư. 11 Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của các ngân hàng thương mại càng tăng nhanh và loại hình cho vay càng trở nên vô cùng đa dạng ở hầu hết các nước phát triển hàng đầu thế giới, cho vay của các ngân hàng thương mại đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn.
Khu vực cho vay ngắn hạn nhường chỗ cho thị trường tài chính - tiền tệ cung ứng. Ngược lại, ở hầu hết các nước đang phát triển, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát từ chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu tư dài hạn (trong đó có những tác nhân chủ yếu như tình hình tăng trưởng, lạm phát…). Ở một số nước phát triển cho tới nay, khi một ngân hàng được thành lập và đi vào hoạt động, mối quan tâm chính và thường xuyên là cho ai vay và đầu tư vào đâu. Ở những nước này, đối tượng cho vay là điều được quan tâm nhiều hơn nếu không nói là vấn đề quan trọng nhất.
Trong khi đó ở các nước phát triển tình hình lại ngược lại. Vấn đề đặt ra cho các ngân hàng không phải vấn đề cho ai vay, mà lợi tức có cao không và an toàn không. Thậm chí những lo ngại như vậy thực tế đã không còn vì hầu hết họ đã có những thị phần chắc chắn và vấn đề an toàn của vốn đã có pháp luật bảo đảm. Điều họ quan tâm là làm sao huy động được ngày càng nhiều tiền cho các khoản đầu tư có sẵn.
Cho vay của ngân hàng thương mại, nói rộng ra là tín dụng ngân hàng thương mại, là một lĩnh vực phức tạp và thường xuyên cập nhật theo những biến chuyển của môi trường kinh tế. Để hiểu về vấn đề này, chúng ta cần tìm hiểu thêm những nét đặc trưng quan trọng của nó.1 Khái niệm về hoạt động cho vay Nhà kinh tế Pháp Louis Baundin, đã định nghĩa tín dụng như là “Một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”. Ở đây, chúng ta thấy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào cũng vì có sự xen lẫn đó, cho nên có sự bất trắc, rủi do xảy ra và cần có sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau nên mới có danh từ tín dụng. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với 12 nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Theo Thông tư số 39/2016/TT- NHNN ngày 30/12/2016).
Định nghĩa trên được các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác áp dụng để làm tiền đề căn bản cho các hoạt động cho vay của mình.2 Đặc điểm của một hoạt động cho vay - Tính pháp lý của nghiệp vụ cho vay: Cho vay của ngân hàng là một khái niệm kinh tế hơn là pháp lý. Các hành vi cho vay của ngân hàng có cùng một lôgíc kinh tế, hứng chịu rủi ro cho một người mà ngân hàng tin tưởng ứng vốn cho vay, nhưng nó không chỉ gồm một giao dịch pháp lý mà nhiều loại (cho vay, bảo lãnh, cầm cố). - Luật ngân hàng các nước định nghĩa tín dụng như sau: “Cấu thành một nghiệp vụ tín dụng bất cứ tác động nào, qua đó một người đưa hoặc hứa đưa vốn cho một người khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho người này nhưng đảm bảo, bảo chứng hay bảo lãnh mà có thu tiền”.