Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp. Chương 2: Sự hình thành cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013. Chương 3: Thực hiện cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CONNGƢỜI, QUYỀN CÔNG DÂN THEO HIẾN PHÁP 1. Quyền con ngƣời, quyền công dân và cơ chế bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân 1.
Quyền con người Giai cấp tư sản là lực lượng nêu cao ngọn cờ nhân quyền với các tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, công lý, vốn là yêu cầu bức thiết của Nhân dân lao động, tuyệt đối hoá tự do cá nhân, nhấn mạnh yếu tố cá nhân trong khái niệm quyền con người. Lần đầu tiên các quyền con người được chính thức ghi trong các văn kiện quan trọng như Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp 1789. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người, nội dung các quyền con người tiếp tục phát triển. Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa triết học "kinh điển" nào về quyền con người.
Hiến pháp 1791 của Pháp viết quyền con người - đó là “quyền tự do, sở hữu, được an toàn và chống lại áp bức". Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ 1776 viết: “quyền con người - đó là các quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Xét một cách khái quát, các quan điểm quyền con người thường chỉ ra những khía cạnh chính sau: Khía cạnh thứ nhất: Căn cứ vào nhu cầu bản năng của con người, nhu cầu cơ bản nhất của con người thực thể để đưa ra khái niệm nhân quyền và giải thích những tiêu chuẩn nhân quyền như là một giá trị cơ bản, tự nhiên, vì nhân quyền là sản vật vốn có của tự nhiên, là thiên phú bẩm sinh, là đặc quyền tự nhiên. Giá trị của quan niệm này vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến khái niệm nhân quyền ngày nay: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một là, quan niệm về quyền con người theo thuyết tự nhiên đương đại vẫn có xu hướng tuyệt đối hóa giá trị tự nhiên, cho rằng có con người thì đương nhiên phải có quyền con người, bản thân con người cũng là sản vật của tự nhiên sinh ra và quyền con người là thuộc tính tự nhiên vốn có của con người như chính bản thân con người vậy.
Hai là, quan niệm về giá trị tự nhiên của quyền con người trở nên phức tạp trước sự phát triển của công nghệ hiện đại. Nhiều nhà nhân quyền học cho rằng việc chế tạo ra con người nhân tạo, phẫu thuật ghép đầu, thay tim, thay đổi giới tính…đã phá hủy sự phát triển tự nhiên của con người. Ba là, thuyết tự nhiên về quyền con người trong xã hội hiện đại đang đứng trước những tranh luận lớn. Ví dụ như, nếu thuyết tự nhiên về quyền con người ở thế kỷ XVII, XVIII phấn đấu cho quyền sống thiêng liêng bất khả xâm phạm của con người thì ngày nay lại bàn đến quyền con người trước cái chết.
Có ý kiến cho rằng trong trạng thái chết lâm sàng, công dân vẫn là chủ thể của pháp luật có quyền đòi hỏi cán bộ y tế giúp đỡ về mặt y học… Bốn là, trong xã hội hiện đại, với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và năng suất lao động, cùng với sự xuất hiện của hình thức sở hữu mới như sở hữu thông tin, sở hữu trí tuệ…là sự tăng lên về các phương tiện vật chất và tiện nghi sinh hoạt…thuyết tự nhiên về quyền con người chuyển dần từ sắc thái trừu tượng về bản chất tự nhiên về quyền con người sang việc áp dụng các hình thức, thiết chế cụ thể về quyền tự nhiên của con người. Khía cạnh thứ hai: Trong khái niệm nhân quyền hiện đại có xu hướng đề cao cá nhân, tuyệt đối hóa vai trò của cá nhân. Nhân quyền là quyền của con người độc lập, tự mình bao bọc mình. Nhân quyền chính là giới hạn để phân ly giữa người với người, là tiêu chuẩn để xác định tư cách con người so với người khác.
Thuyết cá nhân về quyền con người đề cao chủ nghĩa vị kỷ, nhấn mạnh quyền con người tự mình bao bọc mình thoát khỏi sự rằng buộc của xã hội. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khía cạnh thứ ba: Nhấn mạnh nội dung đạo đức trong khái niệm quyền con người. Quyền con người là quyền đạo đức, chỉ là quyền đạo đức. Macfarlane (Anh) định nghĩa quyền con người là quyền đạo đức thuộc về mỗi người đàn ông và mỗi người đàn bà.
Sở dĩ người đàn ông và người đàn bà có cái quyền đó vì họ là người có đạo đức. Trong lịch sử tư tưởng phương Tây, quyền tự nhiên được coi như tiêu biểu cho đạo đức. Cần nhấn mạnh quyền con người là đạo đức không phải chỉ do đòi hỏi của truyền thống lịch sử văn minh nhân loại mà còn do cấu trúc tự nhiên của quyền con người. Khía cạnh thứ tư: Trong tư tưởng nhân quyền phương Tây đương đại, những tư tưởng lấy luật tự nhiên làm cơ sở có thể chia thành hai phái: thần học và phi thần học.
Nhà triết học người Pháp J.Maritian là người theo chủ nghĩa Thomas mới, cũng là nhân vật tiêu biểu của học thuyết quyền con người theo phái thần học. Sau chiến tranh, họ đã quan niệm rằng : “Quyền con người, thứ triết học đích thực được chúng ta đối xử bằng quan niệm bản thể luận, thông qua các kết cấu và nhu cầu chủ yếu tự nhiên được sáng tạo, nó truyền đạt trí tuệ của Chúa đối với tạo vật”. Nhân quyền theo phái thần học là nội dung phấn đấu của tôn giáo và nhiều nhà thần học đương đại. Khía cạnh thứ năm: Theo cách hiểu cơ cấu, học thuyết Hohfeld thì cho rằng quyền con người bao gồm: tự do, yêu cầu, quyền lực và ân xã.
Tuy nhiên, nhiều người cho rằng không thể có khái niệm quyền con người chung nhất, phải chia nhân quyền thành hai loại lớn như trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã xác định: Một là quyền công dân và quyền chính trị, một loại khác là quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Có người cho rằng có thể phân chia thành bốn quyền: quyền công dân, quyền chính trị, quyền xã hội và kinh tế, quyền văn hóa. Ý nghĩa của sự phân chia là hai loại hay bốn loại trên là ở chỗ các quyền công dân và quyền chính trị thì phải thực hiện một cách nhanh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chóng, đầy đủ. Đối với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa thì chỉ yêu cầu Nhà nước có cố gắng lớn nhất và có những bước đi thích hợp nhất để thực hiện.
Khía cạnh thứ sáu: Khái niệm nhân quyền theo chủ nghĩa nhân bản trừu tượng, xem quyền con người là bản tính vốn có, coi tự do các kiểu là tiêu chuẩn hàng đầu của nhân quyền, là hạt nhân của nhân quyền. Nhân quyền tự do là giá trị tuyệt đối, vĩnh cửu, phổ biến, cũng là đích cuối cùng, là giá trị cao nhất trong mọi giá trị. Tuyên ngôn độc lập năm 1766 của Mỹ, Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp năm 1789 đều tuyên bố quyền con người do tạo hóa sinh ra, là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Tuyên ngôn nhân quyền thế giới cũng cho rằng, quyền con người thuộc về mọi người với tư cách là một con người đã được hưởng quyền con người, vượt lên thời gian, vượt lên xã hội….
Khía cạnh thứ bảy: Khái niệm nhân quyền theo quan niệm kinh tế dựa trên nguyên tắc tự do kinh tế trong kinh tế.Xmits “ đối với cá nhân, tốt nhất là anh ta tự mình đánh giá được chính mình về mặt lợi ích. Lợi ích cá nhân không mâu thuẫn nhau mà thỏa thuận với nhau theo nguyên tắc thích ứng tự nhiên”. Xuất phát từ quan niệm tự do cá nhân với tư cách là chủ thể độc lập của quan hệ kinh tế, con người có quyền về những lợi ích kinh tế và luôn tự hoàn thiện sở hữu bằng những bảo đảm lợi ích của mình không gây hại cho người khác. Quyền sở hữu và lợi ích kinh tế là nội dung căn bản nhất của quyền con người.
Không thể đặt quyền sở hữu và lợi ích kinh tế ngang hàng với các quyền chính trị, xã hội khác, với các khả năng bẩm sinh về tự do và bình đẳng. Khía cạnh thứ tám: Gắn quyền con người trực tiếp với nội dung về quyền lực. Con người tồn tại trong xã hội, nhưng xã hội có một thuộc tính tất yếu và cố hữu là quyền lực, vì bản thân xã hội luôn chứa đựng những mâu thuẫn. Quyền lực trở thành nhu cầu tất yếu của con người trong xã hội xuất 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát từ chính nhu cầu phát triển tự do…Theo Mourgon viết “Chẳng bao giờ người ta quên việc bắt con người phải phục tùng các mệnh lệnh của an ninh tâp thể…Tuyên ngôn về nhân quyền đã làm cho con người trở thành địch thủ của con người, đặt cơ sở tốt hơn cho kiểm soát quyền lực bằng một quyền lực được mời làm trọng tài.” Mặc dù có nhiều khía cạnh khác nhau về quan niệm nhân quyền nhưng có thể đi đến một số nhận định chung về những thuộc tính cơ bản của khái niệm nhân quyền như sau: - Quyền con người luôn gắn liền với mỗi con người, vừa với tư cách cá nhân, vừa với tư cách thành viên trong xã hội.
Vì vậy, quyền con người vừa mang thuộc tính tự do cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia. - Quyền con người phải được xác định rõ bằng các quyền năng cụ thể, có tính phổ cập, cần thiết cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo… - Quyền con người vừa thể hiện thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là khái niệm nảy sinh trong đời sống cộng đồng, gắn chặt với chế độ chính trị, Nhà nước…Ghi nhận quyền con người, pháp luật phản ánh các nhu cầu và khả năng khách quan trong tương quan với các yếu tố chính trị, kinh tế, lịch sử…chỉ có thông qua pháp luật và thể chế thì nhu cầu, khả năng về quyền con người mới trở thành quyền được xác định.