CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHUYỂN GIÁ TRONG CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHUYỂN GIÁ TẠI VIỆT NAM Ở Việt Nam, những nghiên cứu có giá trị đầu tiên về giá chuyển giao và vấn đề chuyển giá được thực hiện vào những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. Tuy nhiên, nghiên cứu ở cấp độ Tiến sỹ, đề tài khoa học cấp Bộ (và tương đương) rất ít. Cấp độ Thạc sỹ, có một số học viên cao học đã chọn vấn đề này làm luận văn tốt nghiệp. Phần nhiều trong nghiên cứu về chuyển giá là các bài báo khoa học, bài nghiên cứu tham gia hội thảo khoa học.
Có thể nêu một số nghiên cứu sau: Sách chuyên khảo có: “Định giá chuyển giao và chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở TP.HCM” (2000) của TS. Nguyễn Ngọc Thanh; “Tăng cường kiểm soát nhà nước đối với hoạt động chuyển giá trong doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt Nam” (2014) của PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa. Đề tài nghiên cứu khoa học có: “Giải pháp hạn chế các thủ thuật chuyển giá trong điều kiện hiện nay của các công ty đa quốc gia đang hoạt động ở Việt Nam” (2012) do PGS.TS Ngô Thế Chi làm chủ nhiệm; Các bài báo khoa học khá nhiều, có thể nêu một số nghiên cứu sau: Đoàn Văn Trường (2005): “Vấn đề chuyển giá của các công ty đa quốc gia”; Phan Thị Thành Dương (2006): “Chống chuyển giá ở Việt Nam”, DươngThị Nhi (2011): “Chống chuyển giá, bài toán khó giải”; Phan Văn Tính (2011): “Kinh nghiệm chống chuyển giá của một số quốc gia”. Luận án Tiến sỹ có: “Hoàn thiện phương pháp định giá chuyển giao trong chính sách thuế Việt Nam” (2002) của NCS.
Phan Hiển Minh; “Các giải pháp hạn chế việc trốn thuế và tránh thuế của các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam” (2009) của NCS. Nguyễn Thị Lan; “Pháp luật về kiểm soát chuyển giá ởViệt Nam” (2010) của NCS. Phan Thị Thành Dương; “Kiểm soát nhà nước đối với gian lận chuyển giá tại Việt Nam” (2015) của NCS Nguyễn Văn Phượng. 5 Qua nghiên cứu các tài liệu, có thể thấy những nội dung trọng tâm, cơ bản được nhiều tác giả quan tâm và đã giải quyết được về lý thuyết cũng như thực tiễn về vấn đề chuyển giá, như sau: Nêu bật các tác động của chuyển giá đối với nền kinh tế.
Phân tích các động cơ và thủ thuật thực hiện chuyển giá của các MNC. Nêu lên kinh nghiệm của một số quốc gia từ đó rút bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam. Cập nhật những chính sách mới về thuế liên quan đến chuyển giá. Các giải pháp ngăn ngừa chuyển giá và những khó khăn mà các cơ quan chức năng phải đối mặt.2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1.1 KHÁI NIỆM Theo định nghĩa của nhóm chuyên gia Liên hiệp quốc, Công ty đa quốc gia (MNC - Multinational Corporation) là công ty có sở hữu hay quyền kiểm soát khả năng sản xuất hoặc dịch vụ ở bên ngoài biên giới của một nước mà công ty đó có trụ sở chính.
Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia. Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia. Các công ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa. Công ty đa quốc gia bao gồm công ty mẹ ở một nước, và thực hiện các đầu tư FDI ra nước ngoài để hình thành các công ty con.
Các công ty mẹ con này ảnh hưởng lẫn nhau và cùng chia sẻ kiến thức, nguồn lực và trách nhiệm.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY ĐA QUỐC GIA Các công ty quốc gia thành lập các chi nhánh và các công ty con tại các quốc gia khác sẽ trở thành công ty đa quốc gia. Mục tiêu của các công ty đa quốc gia này còn bao hàm cả việc tìm kiếm các nguồn nguyên liệu, nhân công với giá cả so sánh, tìm kiếm những ưu đãi về thuế, ưu đãi về kinh tế nhằm phục vụ cho mục tiêu to lớn nhất của các công ty là tối đa hóa lợi nhuận và tối đa hóa giá trị tài sản công ty. Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc sản xuất như sau: 6 ❖ Công ty đa quốc gia "theo chiều ngang" sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds). ❖ Công ty đa quốc gia "theo chiều dọc" có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho việc sản xuất ở một số nước khác (ví dụ: Adidas).
❖ Công ty đa quốc gia "nhiều chiều" có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft).3 CÁC NGHIỆP VỤ MUA BÁN NỘI BỘ CỦA CÔNG TY ĐA QUỐC GIA Các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ của MNC là những hoạt động mua bán qua lại giữa công ty mẹ và công ty con hoặc giữa các công ty con của MNC với nhau. Do quy mô hoạt động rộng lớn và dàn trải trên một phạm vi địa lý bao gồm nhiều quốc gia với nhiều chính sách, phong tục tập quán khác nhau mà các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong MNC rất đa dạng, phức tạp với khối lượng ngày càng lớn. Vì vậy mà các cơ quan thuế riêng lẻ của từng quốc gia sẽ rất khó khăn trong việc quản lý và khó kiểm soát. Các nghiệp vụ này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược phát triển của các MNC.
Dựa vào tính chất và đặc điểm của các nghiệp vụ mua bán nội bộ phổ biến trên thị trường, chúng ta có thể phân chia các nghiệp vụ mua bán nội bộ ra thành các nhóm như sau: ❖ Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan nguyên vật liệu có tính chất đặc thù cao, hay các nguyên vật liệu mà một công ty con đặt tại một quốc gia có các lợi thế riêng làm cho giá của nguyên vật liệu ấy thấp. ❖ Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan đến các thành phẩm, các công ty con tại các quốc gia khác nhau có thể mua thành phẩm được sản xuất tại một quốc gia và sau đó bán lại mà không cần phải đầu tư máy móc hay nhân công cho sản xuất. ❖ Các giao dịch liên quan việc dịch chuyển một lượng lớn máy móc, thiết bị cho sản xuất mà đặc biệt hơn là điểm đến của các giao dịch này là các quốc gia đang phát triển. ❖ Các giao dịch liên quan đến các tài sản vô hình như nhượng quyền, bản quyền, thương hiệu, nhãn hàng, các chi phí liên quan đến nghiên cứu và phát triển sản phẩm.
❖ Có sự cung cấp các dịch vụ quản lý, dịch vụ tài chính hay chi phí cho các chuyên gia vào làm việc tại nước nhận chuyển giao. 7 ❖ Có sự tài trợ và nhận tài trợ về các nguồn lực như tài lực và nhân lực. ❖ Có các khoản đi vay và cho vay nội bộ các công ty con của MNC hay giữa công ty mẹ và các công ty con. Các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ này diễn ra thường xuyên với giá trị lớn, vì vậy để hạn chế các tác động tiêu cực của các nghiệp vụ này thì cần phải có một nguyên tắc áp dụng chung và thống nhất trên các quốc gia.
Nguyên tắc này được lập ra nhằm đảm bảo tính công bằng trong thương mại, là cơ sở cho các nghiệp vụ mua bán, trao đổi hàng hóa và cung cấp dịch vụ giữa các quốc gia. Nguyên tắc được được áp dụng đó là nguyên tắc dựa trên căn bản giá thị trường ALP ( The Arm's Length Principle). Theo nguyên tắc này, các bên có quan hệ liên kết phải định giá chuyển giao cho các giao dịch nội bộ như thể họ là các đối tác độc lập. Điều này có nghĩa là khi các công ty trong MNC có quan hệ trao đổi buôn bán với nhau thì các điều kiện thương mại và tài chính trong hợp đồng kinh tế (giá cả hàng hóa, dịch vụ, điều khoản về tín dụng,.) đều được định hướng và chi phối bởi các tác động khách quan của thị trường.3 CHUYỂN GIÁ TRONG CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1.1 KHÁI NIỆM VỀ CHUYỂN GIÁ * Khái niệm về chuyển giá Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu.
Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết. Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch như thế xuất phát từ ba lý do sau: Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn. 8 Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục.
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế – xã hội của họ không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu. Chênh lệch mức độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra.
* Gía thị trường "Giá thị trường" là cụm từ để chỉ giá sản phẩm theo thỏa thuận khách quan trong giao dịch kinh doanh trên thị trường giữa các bên không có quan hệ liên kết (các bên độc lập).