MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chuyển đổi số là chủ đề được nhắc đến nhiều trong những năm gan đây, trên thế giới điều này đã có vào cuối những năm 1990 và giữa những năm 2000. Chuyên đổi số là sự tái cấu trúc cơ bản về cách thức hoạt động của một tô chức. Mục tiêu của chuyền đôi số là tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua việc tiếp tục áp dụng công nghệ trên quy mô lớn, dé cải thiện trải nghiệm của khách hàng/ người dùng và giảm chi phí cho tổ chức.
[40] Hơn 30 năm qua, chúng ta đã khởi xướng các quy trình được tin học hoá và các công ty/ tổ chức đã tích hợp nhiều hoạt động tự động hóa. Sau đó Internet cho phép các tổ chức/ doanh nghiệp kết nối kỹ thuật số với khách hàng của họ thông qua các trang web. Các hệ thống trực tuyến đã phát triển dé hỗ trợ khách hàng. Khi khát vọng kỹ thuật số của các tô chức/ doanh nghiệp phát triển nhanh chóng, bộ phận công nghệ cần nhanh chóng quản lý các nền tảng xã hội và web mới nhất.
Điều này thúc day các công ty sử dụng thông tin kỹ thuật số dé tạo ra các sự kiện và trải nghiệm độc đáo cho tô chức. Các công ty/ tô chức nhận ra rằng họ hoạt động trong các mạng lưới liên kết với người dùng, nhà cung cấp và các bên liên quan khác. [12] Chuyên đổi số đang ngày một thay đôi nhận thức của cácnhà lãnh đạo, những người có khả năng quyết định hướng đi và khả năng chuyên đổi thành công của tô chức. Bộ máy chính quyền của nhiều quốc gia sau khi nhận ra tầm quan trọng của chuyên đồi số trong việc gia tăng hiệu quả của nền kinh tế và dam bao an ninh quốc gia, đã lập tức bước vào một “cuộc đua” mới trong việc áp dụng chuyền đôi số.
Có thê thấy chuyên đổi số là một sự thay đổi mang tính tong thé và toàn diện, chuyền đôi số mở ra cơ hội cho tat cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ngày 03 tháng 06 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định 749/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Với tầm nhìn đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia số, 6n định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp. [3] Từ Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 11 tháng 02 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ký ban hành Quyết định số 206/QĐ-TTg phê duyệt "Chương trình chuyển đổi số ngành thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030" nhằm định hướng tô chức hoạt động nganh thư viện tiếp tục phát triển đồng bộ với các ngành, lĩnh vực trong chủ trương chuyên đổi số quốc gia của Chính phủ.
Trong Quyết định 206/QĐ-TTg cũng đã nêu rõ mục tiêu chung của Chương trình chuyển đổi số ngành thư viện: Ứng dụng mạnh mẽ, toàn diện công nghệ thông tin, nhất là công nghệ số nhằm nâng cao năng luc hoạt động của các thư viện và hình thành mạng lưới thư viện hiện đại; bảo đảm cung ứng dịch vụ đáp ứng nhu cau của người sử dụng; thu hút đông dao người dân quan tâm, sử dung dịch vụ thư viện, góp phan nâng cao dân trí, xây dựng xã hội học tập. Mục tiêu chủ yếu đến năm 2025: 100% người làm công tác thư viện được đào tạo và đào tạo lại, cập nhật các kiến thức, kỹ năng vận hành thư viện hiện đại. Tu mục tiêu nay đã đặt ra nhiệm vụ cho ngành thư viện trong phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là: Đổi mới chương trình, hình thức và day mạnh đào tạo, đào tạo lại, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức, trình độ, kỹ năng vê chuyên đôi so cho can bộ quan lý và người làm công tác thư viện; biên soạn day đu sách, tài liệu hướng dân, bồi dưỡng với nội dung, hình thức phong phú, dễ nắm bắt, cập nhật. [4] Đề thực hiện Quyết định 206/QĐ-TTg, Chính phủ đã giao cho Bộ Văn hoá, Thé thao và Du lịch chủ trì xây dựng kế hoạch, chương trình cụ thé dé tổ chức triển khai thực hiện; giao Bộ Giáo duc và Dao tao chủ tri, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đôi mới chương trình dao tạo chuyên ngành thông tin - thư viện phục vụ công tác phát triển nhân lực thư viện ở bậc đại học và sau đại học.
Xây dựng các mã ngành đào tạo mới và cập nhật chương trình đào tạo nhân lực chuyên nghiệp ở đại học và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các nội dung liên quan đên chuyên ngành thông tin - thư viện. Từ Quyết định 206/QĐ-TTg của Chính phủ, Bộ Văn hoá, Thé thao va Du lịch đã ký Quyết định 2175/QD-BVHTTDL ngày 23/7/2021 ban hành kế hoạch triển khai "Chương trình chuyền đổi số ngành thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030", trong Kế hoạch có nhiệm vụ thứ 8: Đào tao, tập huấn, bôi dưỡng nâng cao chất lượng nhân lực ngành thư viện đáp ứng yêu câu chuyển đổi số; học hỏi kinh nghiệm tại các quốc gia có chuyển đổi số ngành thư viện phát triển. [1] Đề công cuộc chuyền đổi số quốc gia nói chung, chuyên đổi số ngành thư viện nói riêng được thành công, chúng ta không thê phủ nhận vai trò và tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực, trong đó có ngành thư viện. Bởi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, lực lượng chính tham gia vào công cuộc chuyền đổi số quốc gia.
Vì vậy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông tin — thư viện trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu cấp bách được các cơ quan thông tin - thư viện Việt Nam đặt lên hàng đầu. Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông tin — thư viện trong bối cảnh chuyển đổi số ngành thư viện Việt Nam” dé thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ SỞ. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Tình hình nghién cứu trong nước Nghiên cứu về nguồn nhân lực thông tin — thư viện (TT-TV) trong hệ thống thư viện công cộng nói chung, trong hoạt động quản lý, phát triển nguôồn nhân lực ở các cơ quan TT-TV nói riêng, đã có một số bài báo khoa học đề cập trên các tạp chí chuyên ngành ở Việt Nam thời gian qua, như bài viết: “Nguồn nhân lực trong hoạt động thư viện - thông tin” của Đoàn Tién Lộc cho rằng chất lượng dịch vụ thông tin - thư viện phụ thuộc trực tiếp vào trình độ, kỹ năng và thái độ phục vụ của người cán bộ thư viện.
Vì thế, yếu tố nhân lực trong thư viện là tác nhân chính đảm bảo chất lượng hoạt động cho thư viện. Khang định nguồn nhân lực có vai trò quan trọng trong mọi hoạt động đời sống xã hội nói chung và hệ thống thư viện nói riêng. Bài viết tập trung vào bốn vấn đề chính về nguồn nhân lực trong hoạt động thư viện — thông tin: cơ cầu nguôn nhân lực, yêu cau đối với nguồn nhân lực, nguồn cung cấp nhân lực thư viện và vai trò của việc phát huy nguồn lực con người trong các thư viện tỉnh, thành pho. Theo tác giả cơ câu nguồn nhân lực trong hoạt động thư viện có thé xác định căn cứ vào một số dấu hiệu: cơ cau nhân lực theo độ tuôi, giới tính, chức năng; Yêu cầu đối với nguồn nhân lực là yêu cầu về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học; Nguồn cung cấp nhân lực được phân tích dựa trên số lượng và chất lượng sinh viên tốt nghiệp từ các trường dao tạo về nghề thư viện.
Tác giả cho rằng thực tế ở Việt Nam, nguồn cung cấp nhân lực cho ngành thư viện còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu về trình độ chuyên môn, bởi nhiều người làm trong thư viện tốt nghiệp ngành khác hoặc không học qua bat cứ trường dao tạo nao về thư viện, số được đào tạo đúng chuyên ngành lại làm việc ở lĩnh vực khác. Vì thế việc đánh giá khả năng có thể cung cấp nguồn nhân lực được đảo tạo đúng ngành nghề, đúng chuyên môn, chính là cơ sở quan trọng, để xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực cho phù hợp. Bên cạnh đó bài viết cũng đề cập đến nội dung chương trình đào tạo cần sát với yêu cầu thực tiễn hoạt động, giảng viên tham gia đào tạo cũng phải có kiến thức, trình độ và kinh nghiệm; Cuối cùng tác giả nhấn mạnh trong hoạt động thông tin - thư viện, nguồn nhân lực giữ vai trò trung tâm, quyết định. Cán bộ thư viện là môi giới giữa tài liệu và người sử dụng tài liệu; là người khai thác, sử dụng cơ sở vật chất - kinh phí để triển khai hoạt động thông tin - thư viện.
Không có nguồn nhân lực thì thư viện không thê hình thành và phát triển. Chính vì vậy dé phát triển mạng lưới thư viện Việt Nam nói chung và thư viện tỉnh, thành phố nói riêng, điều quan trọng đầu tiên là phải phát triển nguồn nhân lực. “Phương pháp luận phát triển nguồn nhân lực thư viện ” của tác giả Dương Thị Vân đi sâu phân tích về việc lập kế hoạch để phát triển nguồn nhân lực thư viện. Làm rõ việc lập kế hoạch nguồn nhân lực giúp cho các đơn vị thay rõ phương hướng, cách thức quản lý nguồn nhân lực của minh, bao đảm cho đơn vi có được đúng người đúng việc, vào đúng thời điểm cần thiết và linh hoạt đối phó với những thay đôi của môi trường bên ngoài.
Thừa nhân viên sẽ làm tăng chi phí, thiếu nhân viên hoặc chất lượng nhân viên không đáp ứng yêu cầu sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện công việc. Lập kế hoạch nguồn nhân lực có thé hoạt động ở 3 mức độ: cấp quốc gia; cap ngành, lĩnh vực; cấp đơn vi. Lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực thư viện giữ vai trò trung tâm trong quản lý chiến lược nguồn nhân lực thư viện, có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của tô chức, là cơ sở cho các hoạt động tuyên dụng, đào tạo, điều tiết và phát triển nguồn nhân lực.