Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu; cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn cấp huyện. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Chương 4: Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU; CƠ CỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu Nhóm thứ nhất, nghiên cứu về khung lý thuyết cho chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên bình diện chung nhất có các tác giả Võ Huy Khương (2014), “Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng đến 2020” , ông cho rằng lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế ra đời khi lý thuyết kinh tế bắt đầu có sự quan tâm đáng kể đến sự thay đổi cơ cấu trong nền kinh tế. Ngoài ra, ông dẫn nhận định của Pasinetti (1981) về chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một hệ quả tất yếu của tăng trưởng kinh tế, trong quá trình tăng trưởng sẽ có ngành đạt đến mức tới hạn, ngược lại, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách phù hợp sẽ giúp gia tăng hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào từ đó giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Hay, theo Kuznets S (1961), “Quantitative aspects of the Economic growth of Nations, IV, Longterm Trends in apital Formation Proportions”, xem cơ cấu kinh tế là một khung mạch lạc các bộ phận có quan hệ với nhau, mà mỗi bộ phân có vai trò riêng biệt nhưng có cùng một số mục tiêu chung. Tóm lại, cơ cấu kinh tế được xem là tổng thể các bộ phận của nền kinh tế, có mối quan hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định cả về chất và lượng, các bộ phận kinh tế tác động qua lại với nhau trong cùng một không gian và thời gian nhất định nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Cherry (1988), Structural transformation, cho rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tổng sản phẩm quốc dân (GDP), bao gồm sự tích lũy của vốn vật chất và con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm. Ông cho rằng, mức thu nhập bình quân đầu người càng cao thì công nghiệp và dịch vụ càng phát triển, đồng thời, khi công nghiệp và dịch vụ phát triển thì thì mức thu nhập bình quân đầu người cũng tăng tương đối.
Dựa theo các công trình nghiên cứu giai đoạn 1930-1940, Fisher (1993), “Geographical Localizaton or Knowledge Spilloves as Evidenced by Patent 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Citations”, chỉ ra sự phát triển của các quốc gia đồng nghĩa với sự phát triển của ba khu vực, đó là: Khu vực I (nông nghiệp) – Khu vực sản xuất các loại hàng hóa cơ bản và tiềm năng phát triển của khu vực này bị hạn chế ở một chừng mực nào đó; Khu vực II (khu vực chế biến hay khu vực công nghiệp) – Tạo ra các loại hàng hóa lâu bền, phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng trung gian; Khu vực III (khu vực dịch vụ) – sản xuất các loại hàng hóa xa xỉ, và các đầu vào trung gian dưới nhiều loại hình dịch vụ khác nhau, có nhiều tiềm năng phát triển trong xã hội hiện đại. Ở Việt Nam, chương trình khoa học cấp Nhà nước: “Nghiên cứu luận cứ khoa học để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Viện Khoa học và kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã xác định cơ sở và luận cứ khoa học cho quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn Việt Nam và đề xuất định hướng chiến lược, giải pháp chính sách đến năm 2020, trong đó nghiên cứu về khái niệm, nội dung, bước đi của quá trình chuyển dịch. Công trình nhằm góp phần giúp các hộ nông dân chuyển từ tình trạng tự cấp sang kinh tế hàng hóa, thúc đẩy đa dạng hóa SXNN tạo việc làm và tăng thu nhập của nông dân. Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Bùi Tất Thắng (2006), Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ; Ngô Doãn Vịnh (2006), Những vấn đề chủ yếu về kinh tế phát triển; Đoàn Thị Thu Hà (2010), Giáo trình chính sách kinh tế; Ngô Thắng Lợi (2012), Giáo trình Kinh tế phát triển; Mai Văn Tân (2014), Nghiên cứu mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh … cũng là các tác giả tiêu biểu nghiên cứu về cơ cấu kinh tế ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, các tác giả đã làm sáng tỏ những vấn đề lý thuyết cơ bản về Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Cơ cấu kinh tế ngành được thể hiện trên hai nội dung: (1) Số lượng các ngành kinh tế được hình thành; (2) Mối quan hệ tương hỗ giữa các ngành với nhau bao gồm mặt số lượng và chất lượng. Một số học giả trên cho rằng xét trên khía cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì dạng cơ cấu kinh tế ngành được xem là quan trọng nhất vì nó phản ánh sự phát triển của KHCN, lực lượng sản xuất, phân công lao động chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất. Nhóm thứ hai, nghiên cứu về tiêu chí phản ánh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Học giả Moe T (1984), The New Economics of Organization, và North D.C 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (1981), Structure ans Change in Economics History cho rằng cải cách thể chế giúp cho nền kinh tế phát triển hiệu quả, tạo ra những khuyến khích để các chủ thể kinh tế tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để tạo ra một nền thể chế tốt phục vụ hiệu quả cho quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia, địa phương.
Các học giả Jaffe A.M (1993), Geographical Localizaton or Knowledge Spilloves as Evidenced by Patent Citations và Lucas R (1988), On the Mechanics of Economic Development thì cho rằng quốc gia có nguồn nhân lực trình độ cao, đóng góp vào việc nâng cao năng suất lao động từ đó đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế. D Ricardo, (1971), On the principles or political economy, ans taxation đã khẳng định: “Một quốc gia sẽ thu được lợi nhuận cao khi quốc gia đó tận dụng được lợi thế về công nghệ để sản xuất ra các loại hàng hóa dịch vụ với giá cả thấp và nhập khẩu những loại hàng hóa, dịch vụ sẽ phải sản xuất với giá cao tại quốc gia đó”. Tức là chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với phát triển KHCN, chuyển dịch cơ cấu và đổi mới công nghệ là động lực tăng trưởng năng suất, đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 đưa ra bộ chỉ số (30 chỉ số) sử dụng cho theo dõi đánh giá thực hiện chiến lược PTBV, các chỉ tiêu riêng về chuyển dịch CCKTN theo hướng PTBV phản ánh sự gắn kết giữa các khía cạnh phát triển kinh tế và chuyển dịch CCKTN phù hợp với điều kiện của Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung.
Học giả Trần Thọ Đạt (2015), Ứng dụng một số lý thuyết trong nghiên cứu kinh tế dành cho chương trình tiền tiến sĩ đề cập đến các lý thuyết thay đổi CCKT, các ứng dụng lý thuyết thay đổi cơ cấu trong nghiên cứu kinh tế, tốc độ chuyển dịch CCKT ngành nhanh hay chậm phụ thuộc vào các yếu tố nội tại và bên ngoài nền kinh tế. Ông đã đề cập đến nghiên cứu của (Moore, 1978) cho rằng có 3 cách đo lường chuyển dịch CCKT: (i) Cách thứ nhất đó là đo lường sự chuyển dịch CCKT dựa trên tốc độ tăng trưởng; (ii) Cách thứ hai đó là đo lường chuyển dịch CCKT dựa trên khái niệm về “lý thuyết thông tin”; (iii) Cách thứ ba đó là đo lường tỉ trọng của từng ngành trong nền kinh tế dựa trên giá trị sản lượng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khoảng trống nghiên cứu Trước hết, từ nhiều cách tiếp cận và góc độ khác nhau, với những phương pháp và phạm vi nghiên cứu cụ thể, các nhà khoa học đã đưa ra những định nghĩa, quan niệm khác nhau về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Qua việc tổng hợp, phân tích, khái quát để đưa ra định nghĩa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có thể rút ra được nội hàm cơ bản, nguyên tắc, nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như đưa ra được các tiêu chí đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Thứ hai, thông qua việc sử dụng các luận cứ khoa học vào quá trình khảo sát, nghiên cứu thực tiễn, các công trình đã phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam nói chung và một số địa phương cụ thể nói riêng. Cùng với việc chỉ ra những thành tựu và hạn chế, ưu và khuyết điểm, các công trình đã luận giải những nguyên nhân bản chất và đặc trưng của nó, qua đó, đưa ra các khuyến nghị, đề xuất phương hướng cơ bản và các nhóm giải pháp cụ thể tiếp cận theo các góc nhìn để chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cũng như bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung. Thứ ba, mỗi địa phương, lãnh thổ có những đặc điểm phát triển, điều kiện đặc thù, cùng với việc nghiên cứu về phát triển kinh tế, xã hội, những nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã dần được chú trọng.
Từ việc căn cứ vào các đặc trưng về điều kiện tự nhiên, nguồn tài nguyên thiên nhiên, tình hình phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội,… các nghiên cứu đã góp phần xây dựng các cách nhìn đa chiều, cập nhật về thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở các địa phương. Đây là nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp, có giá trị đối với đề tài này.