Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tiêu đề "Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2000 đến năm 2010" được tác giả Vũ Văn Điềm thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà. Luận án bảo vệ năm 2018, thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62 22 03 15).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ quá trình 30 năm (1986 - 2016) Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước. Việc cải biến mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang mô hình kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã hình thành những đặc trưng mới cho cơ cấu kinh tế Việt Nam theo ngành, vùng lãnh thổ và thành phần kinh tế. Đối với tỉnh Yên Bái, giai đoạn 1986 - 1999 ghi nhận những chuyển biến tích cực bước đầu sau khi tái lập tỉnh vào năm 1991. Bước sang giai đoạn 2000 - 2010, Đảng bộ tỉnh Yên Bái tiếp tục lãnh đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm khai thác tài nguyên và cải thiện đời sống nhân dân. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: phần lớn các công trình đã công bố chỉ tập trung khảo sát chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên phạm vi cả nước hoặc tại các vùng kinh tế trọng điểm có xuất phát điểm cao và điều kiện thuận lợi; chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại một địa bàn miền núi còn nhiều khó khăn như Yên Bái dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái vận dụng chủ trương của Đảng, lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh từ năm 2000 đến năm 2010, từ đó rút ra các ưu điểm, hạn chế và kinh nghiệm lịch sử.
Văn bản luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, được đánh số theo trình tự:
- Trình bày một cách hệ thống sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái trên lĩnh vực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hai giai đoạn (2000 - 2005) và (2006 - 2010); làm rõ bước phát triển trong nhận thức cũng như sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Chỉ rõ và đánh giá đúng những kết quả cụ thể về chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái từ năm 2000 đến năm 2010 gồm cả thành tựu và hạn chế.
- Đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm của Đảng bộ tỉnh Yên Bái trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở hai giai đoạn nêu trên, từ đó tổng kết một số kinh nghiệm lịch sử về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh nhằm giải quyết vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương xây dựng và phát triển kinh tế Yên Bái trong những năm tiếp theo.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái về chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2000 đến năm 2010, cùng với quá trình hiện thực hóa các chủ trương đó thông qua hoạt động thực tiễn của các cấp bộ Đảng, chính quyền, sở, ban, ngành chức năng trên địa bàn tỉnh.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn chặt chẽ:
- Về thời gian: Từ năm 2000 đến năm 2010 (có khảo sát bối cảnh những năm đầu tái lập tỉnh 1991 - 2000 để làm rõ căn cứ thực tiễn).
- Về không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Yên Bái.
- Về nội dung: Khảo sát quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên ba lát cắt chủ yếu gồm cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1 của văn bản, tác giả phân chia tình hình nghiên cứu liên quan thành hai hướng tiếp cận chính:
Hướng thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, được chia thành bốn nhóm tài liệu:
- Sách chuyên khảo dưới góc độ kinh tế học:
- Công trình nghiên cứu tổng quát và theo ngành: Sách "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân - tập II" do Ngô Đình Giao chủ biên (1994); sách "Kinh tế Việt Nam đổi mới - những phân tích và đánh giá quan trọng" của Nguyễn Văn Chỉnh, Vũ Quang Việt và Trần Vân (2002); sách "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI" do Nguyễn Trần Quế chủ biên (2004); sách "Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - Nghiên cứu thống kê cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế" của Phan Công Nghĩa (2007); sách "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam" do Phạm Thị Khanh chủ biên (2010). Về cơ cấu ngành cụ thể có sách của Đỗ Hoài Nam chủ biên (1996) với đề tài cấp Nhà nước KX03.19 "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam"; sách của Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1996) về chính sách kinh tế trong nông nghiệp nông thôn; sách của Nguyễn Tiến Mạnh và Dương Ngọc Thí (1996) về nông lâm nghiệp hàng hóa vùng trung du miền núi phía Bắc; sách của Lê Quốc Sử (2001) về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; sách của Bùi Tất Thắng (2006) về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam.
- Công trình nghiên cứu về kinh tế vùng và thành phần kinh tế: Sách do Lê Đình Thắng chủ biên (1998) về cơ cấu kinh tế nông thôn; sách của Đặng Văn Thắng và Phạm Ngọc Dũng (2003) về cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng; sách của Hoàng Văn Cường (2005) về phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi. Về thành phần kinh tế có sách do Vũ Đình Bách chủ biên (2001) về kinh tế nhà nước; sách do Lương Xuân Quỳ chủ biên (2001) về cơ cấu các thành phần kinh tế; sách do Hà Huy Thành chủ biên (2001) về kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân; sách do Hoàng Mạnh Hiển và Nguyễn Minh Phong chủ biên (2005) về các thành phần kinh tế tại Hà Nội.
- Nhóm luận án tiến sĩ:
- Dưới góc độ khoa học kinh tế có các luận án của Ngô Thái Hà (2015), Nguyễn Thị Cẩm Vân (2014), Tạ Đình Thi (2007), Trần Thị Hồng Việt (2006), Nguyễn Đình Dương (2006), Nguyễn Võ Định (2003), Lê Anh Vũ (2001). Đáng chú ý có hai luận án nghiên cứu trực tiếp tại Yên Bái bảo vệ năm 1996 gồm luận án của Lương Văn Phượng ("Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và lãnh thổ ở Yên Bái") và luận án của Vũ Ngọc Kỳ ("Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Yên Bái trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa").
- Dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng có các luận án tiến sĩ của Đặng Kim Anh (2011) về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1996 - 2006; Đào Thị Bích Hồng (2011) về Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1997 - 2006; Trần Thị Thái (2014) về Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1997 - 2005.
- Nhóm kỷ yếu hội thảo khoa học: Hội thảo do Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì năm 1998 về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đồng bằng sông Hồng; hội thảo do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường chủ trì năm 2000; hội thảo của Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh năm 2002 về đường lối nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long; Hội thảo lý luận lần thứ tư giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2004 tại Khánh Hòa về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
- Nhóm bài báo trên các tạp chí chuyên ngành: Bài viết của Nguyễn Thế Anh (2013) trên Tạp chí Lịch sử Đảng; Nguyễn Sinh Cúc (2005) trên Tạp chí Lịch sử Đảng; Võ Hùng Dũng (2009) trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế; Nghiêm Xuân Đạt (2004) trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo; Trần Thọ Đạt (2008) trên Tạp chí Kinh tế phát triển; Nguyễn Xuân Hương (2006) trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo.
Hướng thứ hai gồm các công trình nghiên cứu chuyên biệt về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Yên Bái: Kỷ yếu hội thảo khoa học "Kinh tế trang trại Yên Bái trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn" (1999); sách "Yên Bái một thế kỷ (1900 - 2000)" xuất bản năm 2000; sách "Nông nghiệp, nông thôn Yên Bái trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Vũ Sửu (2002); cuốn sách "Đảng bộ Yên Bái 60 năm xây dựng và trưởng thành (1945 - 2005)" xuất bản năm 2005; cuốn "Vốn để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Yên Bái" của Trần Thị Ngọc Minh (2014); cùng các tư liệu bài báo địa phương.
Vị trí của luận án: Qua khảo cứu, tác giả chỉ ra các công trình trước đây hoặc nghiên cứu ở quy mô vĩ mô cả nước, hoặc tập trung vào các tỉnh đồng bằng, ven biển. Hai luận án của Lương Văn Phượng và Vũ Ngọc Kỳ bảo vệ năm 1996 thuộc ngành kinh tế và chỉ phản ánh giai đoạn đầu tái lập tỉnh (1991 - 1996). Luận án của Vũ Văn Điềm là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ba khía cạnh (ngành, vùng, thành phần) trong cả giai đoạn 2000 - 2010 dưới góc độ lịch sử Đảng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án dựa trên hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đổi mới. Luận án vận dụng các khái niệm kinh tế chính trị về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế được phân định thành ba bộ phận cấu thành hữu cơ:
- Cơ cấu ngành kinh tế: Quan hệ tỷ trọng giữa khu vực nông - lâm - thủy sản, khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực thương mại - dịch vụ, cùng sự chuyển dịch trong nội bộ từng ngành.
- Cơ cấu vùng kinh tế: Sự phân bố lực lượng sản xuất giữa vùng cao và vùng thấp, các trung tâm kinh tế động lực và các tiểu vùng sinh thái nông - lâm nghiệp.
- Cơ cấu thành phần kinh tế: Vị trí, vai trò và sự phát triển của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp lôgíc làm phương pháp chủ đạo của khoa học Lịch sử Đảng. Đi kèm với đó là các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm phân tích, tổng hợp tư liệu văn kiện, phương pháp thống kê kinh tế xã hội và phương pháp so sánh lịch sử nhằm làm sáng tỏ tiến trình vận động khách quan của các chỉ tiêu kinh tế qua hai mốc thời gian 2000 - 2005 và 2006 - 2010.
Nguồn dữ liệu và tư liệu của luận án được khai thác từ ba nhóm nguồn:
- Nhóm văn kiện của Trung ương: Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị Đại hội toàn quốc và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII, IX, X); Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27-11-2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế; Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (2004).
- Nhóm văn kiện, tư liệu lưu trữ của địa phương: Hai cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái (1930 - 2000) và Lịch sử Đảng bộ các huyện, thị trong tỉnh; Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, XIV, XV, XVI, XVII, XVIII; các Nghị quyết chuyên đề và Chương trình hành động của Tỉnh ủy Yên Bái (Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 24-4-2002; Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày 2-8-2002; Chương trình hành động số 22-CTr/TU ngày 21-10-2002; Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 26-11-2001); các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội định kỳ của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái; các ấn phẩm Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái do Cục Thống kê tỉnh Yên Bái phát hành.
- Nhóm sách chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành và các luận án tiến sĩ có liên quan trực tiếp đến đề tài.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án
Chương này dành toàn bộ dung lượng để phân loại, đánh giá có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài chuyên ngành theo hai nhóm lớn: các công trình về lý luận, thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Việt Nam và các công trình nghiên cứu thực tế kinh tế tỉnh Yên Bái. Tác giả chỉ rõ những nội dung mà các nhà khoa học đi trước đã giải quyết thỏa đáng, đồng thời luận giải khoảng trống khoa học cần tiếp tục đi sâu: thiếu vắng một công trình tổng kết quá trình lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đối với việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế tỉnh Yên Bái trong suốt 10 năm đầu thế kỷ XXI (2000 - 2010).
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2000 đến năm 2005
Nội dung chương 2 phân tích các căn cứ thực tiễn, việc ban hành chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nhiệm kỳ 2000 - 2005.
Về căn cứ xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tác giả phân tích toàn diện điều kiện của tỉnh sau khi tái lập từ ngày 12-8-1991 (tách từ tỉnh Hoàng Liên Sơn theo Nghị quyết Quốc hội khóa VIII). Tỉnh Yên Bái có diện tích tự nhiên 6.807 km2, gồm 9 đơn vị hành chính. Địa hình bị chia cắt sâu sắc bởi dãy Hoàng Liên Sơn, hình thành hai vùng rõ rệt: vùng cao chiếm 67,56% diện tích (độ cao trên 600m) và vùng thấp chiếm 32,44% diện tích. Tổng diện tích tự nhiên là 680.292,2 ha, trong đó đất nông nghiệp có 67.278,3 ha; đất lâm nghiệp có 264.065,3 ha; đất chuyên dùng 28.718,4 ha; đất chưa sử dụng 316.502,1 ha; độ che phủ rừng năm 1999 đạt 30,5%. Khoảng 75% diện tích là đồi núi, đất canh tác lúa nước được khai thác tối đa và không còn khả năng mở rộng. Nguồn nước dồi dào với sông Hồng, sông Chảy, 76 khe suối và hồ Thác Bà diện tích 19.050 ha. Tài nguyên khoáng sản gồm than mỏ (Minh Quân, Bái Dương), quặng sắt (Mỵ, Hưng Khánh), quặng đồng (Châu Quế, Phong Dụ), chì kẽm (Tân Lập), felspat, cao lanh và đá hoa calcite. Đến năm 2000, toàn tỉnh có 6 công ty trách nhiệm hữu hạn, 7.300 hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, 5.900 hộ dịch vụ, hơn 3.000 trang trại; cơ cấu nông lâm nghiệp chiếm 47,4%, công nghiệp - dịch vụ chiếm 52,6%; thu nhập bình quân đạt 2,42 triệu đồng/người/năm. Dân số tháng 12-1999 là 682.171 người (nam chiếm 49,68%, nữ chiếm 50,32%; thành thị 19,76%, nông thôn 80,23%), mật độ 101 người/km2. Lực lượng lao động có 281.000 người, tỷ lệ thất nghiệp năm 2000 là 5,7%. Về hạ tầng, 86,8% số xã có đường ô tô đến trung tâm, 100% huyện thị và trên 60% số xã có điện lưới quốc gia.
Về chủ trương, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XV (tháng 2-2001) đề ra mục tiêu: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt từ 9,5% trở lên; nông nghiệp tăng 5 - 5,5%, công nghiệp - xây dựng tăng 11 - 12%, dịch vụ tăng 13 - 14%. Cơ cấu kinh tế trong GDP đến năm 2005 phấn đấu đạt: nông, lâm, ngư nghiệp 41%; công nghiệp - xây dựng 28%; dịch vụ 31%. Tỉnh ủy ban hành các nghị quyết then chốt: Nghị quyết số 03-NQ/TU (ngày 26-11-2001) về phát triển sản xuất công nghiệp giai đoạn 2001 - 2005 với mục tiêu giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 10,5%/năm, hình thành 3 khu công nghiệp tập trung (phía Nam tỉnh, Bắc Văn Yên, thị xã Nghĩa Lộ - Văn Chấn); Chương trình hành động số 12-CTr/TU (ngày 24-4-2002) về ứng dụng khoa học và công nghệ; Chương trình hành động số 17-CTr/TU (ngày 2-8-2002) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX; Chương trình hành động số 22-CTr/TU (ngày 21-10-2002) về khoa học công nghệ, đặt mục tiêu ngân sách địa phương chi cho khoa học công nghệ đạt 1% GDP.
Về kết quả chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2000 - 2005:
- Ngành nông nghiệp: Năm 2005, sản lượng lương thực có hạt đạt 202,99 nghìn tấn; 95,7% diện tích lúa chuyển sang trồng giống lúa lai và lúa thuần chất lượng cao, năng suất ruộng 2 vụ đạt 90,67 tạ/ha. Ngô đạt diện tích 14.149 ha (ngô lai 6.000 ha), năng suất 23,62 tạ/ha. Sắn đạt 12.680 ha, sản lượng 227.400 tấn cung cấp cho nhà máy sắn Văn Yên. Trồng mới 576,3 ha chè, tổng diện tích cây ăn quả đạt 7.941 ha. Năm 2005, diện tích rừng trồng mới đạt 12.100 ha, khoanh nuôi tái sinh 10.098 ha; khai thác gỗ đạt 148.610 m3 (gỗ rừng trồng chiếm 98%), khai thác trên 110.000 tấn tre nứa giấy và 1.500 tấn vỏ quế khô. Nuôi trồng thủy sản đạt 2.200 ha, sản lượng trên 3.600 tấn.
- Biến động cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp theo Bảng 2.1 của luận án:
| Năm |
Trồng trọt (%) |
Chăn nuôi (%) |
Dịch vụ (%) |
| 2000 |
76,84 |
22,23 |
0,93 |
| 2001 |
76,74 |
22,31 |
0,95 |
| 2002 |
75,43 |
23,57 |
1,00 |
| 2003 |
76,57 |
22,44 |
0,99 |
| 2004 |
75,21 |
23,91 |
0,88 |
| 2005 |
72,85 |
26,38 |
0,77 |
Số liệu phản ánh tỷ trọng trồng trọt giảm từ 76,84% xuống 72,85%, tỷ trọng chăn nuôi tăng từ 22,23% lên 26,38%, song tỷ trọng dịch vụ nông nghiệp giảm nhẹ xuống 0,77%. Tác giả nhận xét chuyển dịch còn chậm, giá trị cây lương thực vẫn chiếm tỷ trọng cao (tăng từ 62% năm 2000 lên 68% năm 2004), nông nghiệp chưa thoát khỏi tình trạng độc canh cây lương thực.
- Ngành công nghiệp: Chuyển dịch gắn với chế biến nông - lâm sản và khai thác khoáng sản; xây dựng nhà máy sắn Văn Yên công suất 10.000 tấn/năm, các cơ sở chế biến chè đạt công suất 15.000 tấn/năm, cơ sở bột giấy và giấy công suất 30.000 tấn/năm, nhà máy gỗ nhân tạo 15.000 m3/năm.
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Yên Bái tiếp tục lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2006 đến năm 2010
Chương 3 trình bày sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong bối cảnh đất nước hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tỉnh ủy Yên Bái bổ sung các nhận thức mới: đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế đi liền với nâng cao chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế; phát triển công nghiệp chế biến tinh và công nghiệp khai khoáng quy mô lớn; phát huy lợi thế hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
Nội dung chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn này tập trung vào ba trọng tâm:
- Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành: Kiểm soát tốc độ tăng trưởng nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010; chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu GDP phân theo ba khu vực kinh tế (thể hiện qua các số liệu thống kê GDP hiện hành giai đoạn 2005 - 2010 và Biểu đồ 3.1 so sánh cơ cấu ngành nông - lâm - thủy sản giữa hai năm 2006 và 2010); gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp và mở rộng các ngành dịch vụ vận tải, bưu chính, du lịch hồ Thác Bà và du lịch sinh thái miền Tây của tỉnh.
- Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế: Phân định rõ định hướng đầu tư giữa vùng thấp (phát triển công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp, vùng động lực kinh tế dọc sông Hồng, Quốc lộ 70, Quốc lộ 32, thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ) và vùng cao (tập trung khoanh nuôi bảo vệ rừng, phát triển chè Shan, quế, thảo quả, sơn tra, chăn nuôi gia súc lớn gắn với chương trình định canh định cư và xóa đói giảm nghèo).
- Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế: Đẩy mạnh cổ phần hóa, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước (lâm trường quốc doanh, các công ty chè, vật liệu xây dựng); tạo điều kiện thông thoáng phát triển kinh tế tư nhân, hộ cá thể kinh doanh, phát triển mô hình kinh tế trang trại và củng cố các hợp tác xã nông - lâm nghiệp.
Chương 4: Một số nhận xét và kinh nghiệm
Chương 4 đúc kết những đánh giá tổng thể về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái giai đoạn 2000 - 2010:
- Về ưu điểm: Đảng bộ tỉnh đã quán triệt và vận dụng kịp thời các chủ trương của Trung ương phù hợp với đặc thù tỉnh miền núi; chỉ đạo hình thành được các vùng chuyên canh cây công nghiệp (chè, quế, sắn nguyên liệu) gắn kết với cơ sở chế biến công nghiệp; tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP từng bước tăng lên; giải quyết việc làm cho người lao động và giảm tỷ lệ hộ nghèo.
- Về hạn chế chủ yếu: Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhìn chung còn chậm và thiếu tính bền vững; nội bộ ngành nông nghiệp tỷ trọng trồng trọt còn quá lớn, chăn nuôi chưa thành ngành sản xuất chính; quy mô công nghiệp còn nhỏ, công nghệ lạc hậu, chế biến thô là chủ yếu; khoảng cách chênh lệch phát triển kinh tế giữa vùng cao và vùng thấp chưa được thu hẹp rõ rệt; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, thiếu vốn đầu tư.
- Năm bài học kinh nghiệm lịch sử được tổng kết:
- Trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Đảng bộ tỉnh cần xác định đúng, chủ động bổ sung, hoàn thiện và phát triển chủ trương của Đảng để xây dựng mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế phù hợp với thực tiễn của tỉnh.
- Xác định ngành kinh tế mũi nhọn trong tổng thể kinh tế của tỉnh để tập trung vốn, khoa học, công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng, tăng sức cạnh tranh trên thị trường cho sản phẩm.
- Quy hoạch được những vùng sản xuất gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế ngành.
- Đảng bộ tỉnh Yên Bái cần chú trọng xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn chặt với chủ trương ổn định đời sống, nâng cao thu nhập của người dân, thực hiện hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (giai đoạn 2000 - 2010), góp phần làm rõ sự vận dụng đường lối kinh tế của Đảng vào địa bàn một tỉnh miền núi phía Bắc có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại những kết quả đóng góp cụ thể:
- Dựng lại một cách toàn diện, khách quan và có hệ thống tiến trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2000 đến năm 2010 qua ba nội dung: ngành, vùng và thành phần kinh tế.
- Khảo sát và cung cấp hệ thống số liệu, tư liệu lịch sử xác thực từ các văn kiện chỉ đạo của Tỉnh ủy Yên Bái (các nghị quyết chuyên đề, chương trình hành động) và các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội địa phương giai đoạn 2000 - 2010.
- Đánh giá khách quan các thành tựu, chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Yên Bái.
- Tổng kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn, đóng vai trò luận cứ khoa học để Đảng bộ tỉnh Yên Bái tham khảo trong quá trình xây dựng, điều chỉnh chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho những giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định kết quả nghiên cứu chỉ là bước đầu đánh giá về những thành tựu và hạn chế của một giai đoạn lịch sử cụ thể (2000 - 2010). Do giới hạn phạm vi đề tài, công trình tập trung chủ yếu vào quá trình hoạch định chủ trương và sự chỉ đạo thực tiễn của cấp ủy tỉnh, chưa thể đi sâu chi tiết vào toàn bộ các số liệu kinh tế vi mô ở cấp xã, thôn bản tại các huyện vùng cao đặc biệt khó khăn.
Về hướng nghiên cứu tiếp, trên cơ sở các tư liệu và kết luận của luận án, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát giai đoạn sau năm 2010 đến nay. Việc theo dõi tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Yên Bái trong bối cảnh tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, xây dựng nông thôn mới và thực hiện mục tiêu phát triển xanh, bền vững sẽ là hướng đi mở rộng có giá trị khoa học.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị đối với nhiều đối tượng bạn đọc:
- Đối với cơ quan lãnh đạo và quản lý: Cung cấp tư liệu lịch sử và các bài học kinh nghiệm thực tiễn cho Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, các sở, ban, ngành của tỉnh Yên Bái và các tỉnh miền núi có điều kiện tương tự trong việc hoạch định chủ trương, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quy hoạch vùng nguyên liệu và đào tạo cán bộ.
- Đối với giảng dạy và nghiên cứu khoa học: Làm nguồn tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Địa lý kinh tế và Kinh tế phát triển. Luận án phục vụ trực tiếp cho công tác biên soạn, giảng dạy lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái tại Trường Chính trị tỉnh và các cơ sở giáo dục trên địa bàn.
- Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm hệ thống hóa các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh ủy Yên Bái (2000 - 2005), bảng số liệu thống kê cơ cấu nông nghiệp, cùng 5 bài học kinh nghiệm lịch sử ở Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
-
Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo GDP đến năm 2005 do Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XV đặt ra là gì?
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (tháng 2-2001) xác định mục tiêu đến năm 2005: ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tỷ trọng 41% trong GDP toàn tỉnh; ngành công nghiệp - xây dựng đạt tỷ trọng 28%; ngành dịch vụ đạt tỷ trọng 31%. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt từ 9,5% trở lên.
-
Tỉnh ủy Yên Bái đã ban hành những văn kiện chuyên đề tiêu biểu nào trong năm 2001 - 2002 để chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế?
Trong giai đoạn này, Tỉnh ủy Yên Bái đã ban hành các văn kiện chuyên đề quan trọng:
- Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 26-11-2001 về đẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp giai đoạn 2001 - 2005;
- Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 24-4-2002 về đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn;
- Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày 2-8-2002 thực hiện Nghị quyết lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001 - 2010;
- Chương trình hành động số 22-CTr/TU ngày 21-10-2002 thực hiện kết luận Hội nghị Trung ương 6 khóa IX về phương hướng phát triển khoa học, công nghệ đến năm 2005 và năm 2010.
-
Cơ cấu nội bộ giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh Yên Bái biến động như thế nào trong giai đoạn 2000 - 2005?
Theo số liệu thống kê của Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái năm 2005 được dẫn trong luận án, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành trồng trọt giảm từ 76,84% (năm 2000) xuống còn 72,85% (năm 2005); tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng tương ứng từ 22,23% (năm 2000) lên 26,38% (năm 2005); trong khi đó tỷ trọng ngành dịch vụ nông nghiệp giảm nhẹ từ 0,93% (năm 2000) xuống còn 0,77% (năm 2005).
-
Những đặc điểm tự nhiên và kinh tế nào của Yên Bái năm 2000 là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế?
Yên Bái là tỉnh miền núi có địa hình chia cắt mạnh, vùng cao chiếm 67,56% diện tích, đồi núi chiếm 75% diện tích tự nhiên, quỹ đất canh tác nông nghiệp hạn hẹp (67.278,3 ha trên tổng số 680.292,2 ha đất tự nhiên) khiến việc mở rộng diện tích trồng lúa nước gặp giới hạn. Tỷ lệ dân số nông thôn rất cao (80,23%), trình độ lao động còn thấp, địa phương thiếu vốn và công nghệ. Tuy nhiên, tỉnh có lợi thế lớn về đất lâm nghiệp (264.065,3 ha), khí hậu phù hợp phát triển cây công nghiệp (chè, quế), tiềm năng thủy điện, thủy sản từ hồ Thác Bà và tài nguyên khoáng sản phong phú phục vụ công nghiệp chế biến.
-
Luận án đã tổng kết bao nhiêu bài học kinh nghiệm lịch sử về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái?
Luận án đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử: (1) Xác định đúng, chủ động bổ sung, hoàn thiện chủ trương phù hợp với thực tiễn; (2) Xác định ngành mũi nhọn để tập trung vốn, khoa học, công nghệ nâng cao năng suất và sức cạnh tranh; (3) Quy hoạch vùng sản xuất gắn kết chặt chẽ với phát triển ngành; (4) Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa; (5) Gắn chuyển dịch cơ cấu kinh tế với ổn định đời sống, nâng cao thu nhập và xóa đói giảm nghèo cho nhân dân.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2000 đến năm 2010" của tác giả Vũ Văn Điềm là công trình nghiên cứu lịch sử Đảng phản ánh có hệ thống tiến trình chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại một tỉnh miền núi phía Bắc. Công trình làm sáng tỏ sự vận dụng đường lối của Trung ương vào hoàn cảnh cụ thể của Yên Bái, đánh giá trung thực những kết quả đạt được về cơ cấu ngành, vùng, thành phần kinh tế cũng như những hạn chế nội tại. Hệ thống tư liệu văn kiện, số liệu thống kê địa phương cùng 5 bài học kinh nghiệm được đúc kết là nguồn tư liệu khoa học hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.