phần mở đầu, kết luận và những kiến nghị, đề xuất, nội dung của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế. - Chƣơng 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình. - Chƣơng 3: Các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CẤU VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1. Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế từ trƣớc đến nay có nhiều cách tiếp cận dƣới các góc độ khác nhau. Theo Matchlup (1991) [18] thì “CCKT là sự phân bố các yếu tố đầu vào của nền kinh tế theo ngành, theo nghề nghiệp, theo yếu tố địa lý hay phân loại sản phẩm đầu ra”. Nghiên cứu này xem xét CCKT ở góc độ kỹ thuật.
Còn theo cách tiếp cận của Ishikawa (1987) [19] thì “CCKT được xem xét trên cơ sở tỷ trọng của các thành phần cơ bản của các chỉ số kinh tế vĩ mô: Giữa tổng sản phẩm và chi tiêu, giữa xuất khẩu và nhập khẩu, giữa dân số và lực lượng lao động”. Nghiên cứu này xem xét CCKT trên góc độ cấu thành đầu ra của nền kinh tế. Theo Lê Đình Thắng (1998) [16], CCKT đƣợc hiểu là “một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong những không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định; nó được thể hiện cả về mặt định tính và định lượng, cả về chất lượng và số lượng, phù hợp với những mục tiêu được xác định của nền kinh tế”. Ngô Thắng Lợi (2012) [8] đƣa ra cách hiểu về CCKT “là tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế cùng các mối quan hệ chủ yếu về định tính và định lượng, ổn định và phát triển giữa các bộ phận ấy với nhau hay của toàn bộ hệ thống trong những điều kiện của nền sản xuất xã hội và trong những khoảng thời gian nhất định”.
Theo từ điển Tiếng Việt: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tƣơng đối ổn định hợp thành. Theo Bùi Quang Bình (2010): Cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan hệ về số lƣợng và chất lƣợng giữa các bộ phận cấu thành đó trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Quan hệ số lƣợng giữa các bộ phận trong cấu thành đƣợc thể hiện qua tỷ trọng của mỗi ngành trong kết quả sản lƣợng chung thƣờng là GDP, hay trong tổng các nguồn lực của nền kinh tế nhƣ 7 lao động, vốn tại một thời điểm nào đó. Nếu xém xét theo thời gian và trong mối quan hệ giữa các yếu tố đó sẽ phản ánh mối quan hệ về chất lƣợng mà thực chất là sự chuyển dịch cơ cấu [4].
Có các loại CCKT khác nhau: Cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế - kĩ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị hành chính - lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế; trong đó cơ cấu theo ngành kinh tế - kĩ thuật mà trƣớc hết cơ cấu công - nông nghiệp là quan trọng nhất. Trong thời kì quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chiến lƣợc kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay là xây dựng một CCKT gồm: (1) Cơ cấu kinh tế phân theo ngành: Cơ cấu ngành là tƣơng quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lƣợng giữa các ngành với nhau. Các mối quan hệ này đƣợc hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hƣớng vào những mục tiêu cụ thể. Nguyên tắc phân ngành xuất phát từ tính chất phân công lao động xã hội, biểu hiện cụ thể qua sự khác nhau về quy trình công nghệ của các ngành trong quá trình tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ.
Các ngành kinh tế đƣợc phân thành 3 khu vực hay gọi là 3 ngành gộp: Khu vực I bao gồm các ngành nông - lâm - ngƣ nghiệp; Khu vực II là các ngành công nghiệp và xây dựng; Khu vực III gồm các ngành dịch vụ. (2) Cơ cấu kinh tế thành phần: Cơ cấu kinh tế theo thành phần là tƣơng quan giữa các thành phần kinh tế trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lƣợng giữa các ngành với nhau. Các mối quan hệ này đƣợc hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hƣớng vào những mục tiêu cụ thể. (3) Cơ cấu kinh tế theo vùng: Phát triển những vùng chuyên môn hoá sản xuất có hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
Xác định CCKT hợp lí và thúc đẩy sự chuyển dịch CCKT là vấn đề có ý nghĩa chiến lƣợc quan trọng phụ thuộc vào sự hiểu biết sâu sắc các nhân tố kinh tế, xã hội, kĩ thuật cụ thể ở từng vùng trong từng thời gian 8 và khả năng tổ chức sản xuất, quản lí kinh tế, trên cơ sở đó khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất tài nguyên, đất đai, sức lao động, tƣ liệu sản xuất, tạo ra sự phát triển trên mọi vùng đất nƣớc và tạo điều kiện nâng cao đời sống nhân dân nói chung, khắc phục sự lạc hậu của nhiều vùng, nhiều dân tộc. Nhƣ vậy: Có thể nhận thấy CCKT biểu thị mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận trong tổng thể nền kinh tế. Các bộ phận này có thể tiếp cận dƣới góc độ cơ cấu ngành, cơ cấu vùng kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế hoặc cơ cấu khu vực thể chế. Các bộ phận có tác động tƣơng hỗ và qua lại lẫn nhau cả về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng.
Dựa trên cơ sở xem xét mức độ đóng góp vào GDP của từng bộ phận trong cơ cấu kinh tế, ngƣời ta có thể đƣa ra các đánh giá về mức độ PTKT của một địa phƣơng hoặc một quốc gia. Hơn nữa, có thể khẳng định CCKT là một hệ thống luôn có sự vận động và chuyển dịch về số lƣợng và tỷ trọng trong GDP giữa các bộ phận nhằm hƣớng vào các mục tiêu cụ thể. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế CDCCKT là một phạm trù động, luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển, quá trình thay đổi của CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với môi trƣờng và điều kiện phát triển gọi là sự dịch chuyển CCKT. Chenery (1988) [20], “chuyển dịch CCKT về bản chất chỉ sự thay đổi trong CCKT (change hay transformation) - là các thay đổi về CCKT và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tổng sản phẩm quốc dân (GDP), bao gồm sự tích lũy của vốn vật chất và con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm”.
Trong khi Fisher (1935) [21] lại phân chia nền kinh tế thành 3 khu vực: Nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Theo ông, trong quá trình chuyển dịch CCKT, việc làm và đầu tƣ có xu hƣớng chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và một phần khu vực dịch vụ. Tác giả Colin Clark (1940) [22], cho rằng chính NSLĐ trong các khu vực đã quyết định việc di chuyển lao động từ khu vực có năng suất thấp (nông nghiệp) sang khu vực có năng suất cao (công nghiệp và dịch vụ). Nhƣ vậy, có thể hiểu chuyển dịch CCKT là sự dịch chuyển về vốn, lao động và đóng góp vào sự gia tăng thu nhập trong các khu vực, các bộ phận của nền kinh tế nhằm tăng hiệu quả sản xuất.
9 Theo từ điển Tiếng Việt chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình cải biến kinh tế xã hội từ tình trạng lạc hậu, mang nặng tính chất tự cấp tự túc từng bƣớc vào chuyên môn hoá hợp lí, trang bị kĩ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở đó, tạo ra năng suất lao động cao, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độ tăng trƣởng mạnh cho nền kinh tế nói chung. CDCCKT bao gồm việc cải biến cơ cấu kinh tế theo ngành, theo vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế. CDCCKT là vấn đề mang tính tất yếu khách quan và là một quá trình đi lên từng bƣớc dựa trên sự kết hợp mật thiết các điều kiện chủ quan, các lợi thế về kinh tế, xã hội, tự nhiên trong nƣớc, trong vùng, trong đơn vị kinh tế với các khả năng đầu tƣ, hợp tác, liên kết, liên doanh về sản xuất, dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm của các nƣớc, các vùng và đơn vị kinh tế khác nhau. Ở Việt Nam, CDCCKT là một vấn đề lớn trong sự nghiệp đổi mới kinh tế - xã hội, biến đổi cơ cấu kinh tế không hợp lí trƣớc đây mang nặng tính chất tự cấp tự túc sang cơ cấu kinh tế một nƣớc công nghiệp hiện đại thông qua công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn chặt việc chuyển biến cơ cấu kinh tế đổi mới kĩ thuật công nghệ và tổ chức lại sản xuất.
Phƣơng hƣớng trƣớc mắt là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp chuyển dịch sang cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ ở nông thôn; phát triển toàn diện nông nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản; phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; mở rộng thƣơng nghiệp, du lịch, dịch vụ; đẩy mạnh kinh tế đối ngoại; xây dựng mới đi đôi với cải tạo kết cấu hạ tầng; xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng. Thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần bao gồm: kinh tế nhà nƣớc, kinh tế hợp tác xã, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tƣ nhân là vấn đề mang tính chiến lƣợc lâu dài, trong đó kinh tế nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần dần trở thành nền tảng.