Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng bộ tỉnh bắc giang lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

116
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: BƯỚC ĐẦU LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000

1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng kinh tế nông nghiệp tỉnh Bắc Giang trước 1997

1.1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội

1.1.3. Thực trạng nông nghiệp tỉnh Bắc Giang và nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

1.2. Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2000

1.2.1. Chủ trương chung của Đảng và chủ trương của Đảng bộ

1.2.2. Quá trình tổ chức thực hiện

1.2.2.1. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
1.2.2.2. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng
1.2.2.3. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phần

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NHỮNG NĂM TỪ 2001 ĐẾN NĂM 2010

2.1. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2005

2.1.1. Chủ trương của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ vào thực tiễn Bắc Giang

2.1.2. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng

2.1.3. Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế

2.2. Tăng cường lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 2006 đến năm 2010

2.2.1. Chủ trương của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ Bắc Giang

2.2.2. Quá trình tổ chức thực hiện

2.2.2.1. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
2.2.2.2. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng
2.2.2.3. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phần

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số nhận xét

3.2. Một số kinh nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Bắc Giang 1997 2010

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại tỉnh Bắc Giang từ năm 1997 đến 2010 là một quá trình quan trọng, phản ánh sự thay đổi trong chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp của địa phương. Trong giai đoạn này, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, cải thiện đời sống người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Đặc biệt, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp không chỉ giúp tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bắc Giang

Tỉnh Bắc Giang có điều kiện tự nhiên đa dạng, với nhiều vùng đất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp. Việc nắm bắt và khai thác tốt các nguồn lực tự nhiên là yếu tố quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.

1.2. Thực trạng nông nghiệp tỉnh Bắc Giang trước năm 1997

Trước năm 1997, nông nghiệp tỉnh Bắc Giang chủ yếu dựa vào sản xuất lúa nước, với năng suất và hiệu quả thấp. Sự phát triển chậm chạp của nông nghiệp đã dẫn đến tình trạng đói nghèo và thiếu thốn trong đời sống của người dân. Do đó, nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trở nên cấp thiết.

II. Vấn đề và thách thức trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tỉnh Bắc Giang đã phải đối mặt với nhiều thách thức. Những vấn đề như thiếu vốn đầu tư, công nghệ lạc hậu, và sự cạnh tranh từ các sản phẩm nông nghiệp khác đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. Đặc biệt, việc thay đổi thói quen sản xuất và tiêu dùng của người dân cũng là một thách thức lớn.

2.1. Thiếu vốn đầu tư cho nông nghiệp

Vốn đầu tư là yếu tố quyết định đến sự phát triển của nông nghiệp. Tại Bắc Giang, việc huy động vốn cho nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn lực cho sản xuất và phát triển.

2.2. Công nghệ sản xuất lạc hậu

Công nghệ sản xuất nông nghiệp tại Bắc Giang còn lạc hậu, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc áp dụng công nghệ mới là cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất và cạnh tranh trên thị trường.

III. Phương pháp và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tỉnh Bắc Giang đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp khác nhau. Các chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương, cùng với sự tham gia của người dân, đã tạo ra những bước tiến quan trọng trong phát triển nông nghiệp.

3.1. Chính sách hỗ trợ nông nghiệp

Chính quyền tỉnh Bắc Giang đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ nông nghiệp, bao gồm việc cung cấp vốn vay ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nghề cho nông dân. Những chính sách này đã giúp người dân cải thiện sản xuất và nâng cao thu nhập.

3.2. Đổi mới công nghệ trong sản xuất nông nghiệp

Việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp là một trong những giải pháp quan trọng. Tỉnh Bắc Giang đã khuyến khích nông dân sử dụng giống cây trồng mới, áp dụng kỹ thuật canh tác hiện đại để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại Bắc Giang đã mang lại nhiều thành tựu đáng kể. Năng suất và sản lượng nông sản tăng lên, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt. Những mô hình sản xuất mới đã được áp dụng thành công, tạo ra hướng đi bền vững cho nông nghiệp địa phương.

4.1. Tăng trưởng sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp tại Bắc Giang đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, với nhiều sản phẩm chủ lực như lúa, hoa màu và cây ăn quả. Điều này không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho nông dân mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của tỉnh.

4.2. Cải thiện đời sống người dân

Nhờ vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đời sống của người dân Bắc Giang đã được cải thiện đáng kể. Nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo, có điều kiện sống tốt hơn và tiếp cận với các dịch vụ xã hội.

V. Kết luận và tương lai của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Bắc Giang

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại Bắc Giang từ năm 1997 đến 2010 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, để tiếp tục phát triển bền vững, tỉnh cần tiếp tục đổi mới chính sách, đầu tư vào công nghệ và nâng cao năng lực cho nông dân. Tương lai của nông nghiệp Bắc Giang phụ thuộc vào khả năng thích ứng với thị trường và sự phát triển bền vững.

5.1. Định hướng phát triển nông nghiệp bền vững

Tỉnh Bắc Giang cần xây dựng các chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững, tập trung vào việc bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm. Điều này sẽ giúp nông nghiệp phát triển ổn định và bền vững trong tương lai.

5.2. Tăng cường hợp tác quốc tế trong nông nghiệp

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ mở ra nhiều cơ hội cho tỉnh Bắc Giang. Việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển và áp dụng công nghệ tiên tiến sẽ giúp nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh bắc giang lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: BƯỚC ĐẦU LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng kinh tế nông nghiệp tỉnh Bắc Giang trƣớc 1997 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 1.1 Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý: Bắc Giang là tỉnh miền núi, nằm ở phía đông Bắc Bộ, có diện tích 3.822 km2, gồm 9 huyện ( Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Tân Yên, Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng) và thị xã Bắc Giang với 227 xã, phƣờng, thị trấn. Tỉnh Bắc Giang nằm ở tọa độ 220 - 210 27’ vĩ độ bắc, 105053’-106011’ kinh độ đông, phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây và tây bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, phía nam và tây nam giáp tỉnh Hải Dƣơng, Bắc Ninh và thành phố Hà Nội, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh [52, tr.

Địa lý tự nhiên Bắc Giang chia thành 2 vùng: Vùng rừng núi và vùng trung du. Các huyện vùng núi gồm: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Tân Yên, Lạng Giang và Yên Dũng. Các huyện vùng trung du gồm: Hiệp Hòa, Việt Yên và thị xã Bắc Giang[52, tr. Bắc Giang có nhiều sông ngòi, phân bố tƣơng đối đều giữa các vùng.

Sông Lục Nam (Minh Đức), bắt nguồn từ Đình Lập (Lạng sơn) chảy qua các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Dũng rồi nhập vào sông Thƣơng ở phía trên Phả Lại. Sông Thƣơng (Nhật Đức), bắt nguồn từ dãy Cai Kinh (Lạng Sơn) chảy qua các huyện Yên Thế, Tân Yên, Lạng Giang, thị xã Bắc Giang, Yên Dũng, rồi nhập vào sông Cầu ở phía trên Phả Lại. Sông Cầu (Nguyệt Đức hay Nhƣ Nguyệt) bắt nguồn từ tỉnh Bắc Cạn, chảy qua Thái Nguyên rồi vào Bắc Giang, đến ngã ba Xà nhập với sông Cà Lồ rồi xuôi về 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phả Lại. Ngoài ba con sông lớn trên đây, Bắc Giang còn có hàng trăm con suối, ngòi lớn nhỏ chảy đan xen giữa các vùng [52, tr.

Tỉnh Bắc Giang có hơn 20 loại hình khoáng sản, khoảng 40 loại mỏ trung bình và nhỏ gồm đồng, vàng, sắt, chì, kẽm, thủy ngân. phong phú hơn cả vẫn là nhóm nguyên, nhiên liệu gồm than đá, than bùn, các loại nguyên vật liệu cung cấp cho ngành công nghiệp hóa chất, gốm sứ, vật liệu xây dựng. Khí hậu: Bắc Giang mang những đặc trƣng của vùng khí hậu chuyển tiếp, vừa có tính nhiệt đới nóng ẩm, vừa có tính chất Á nhiệt đới. Nhiệt độ bình quân hàng năm là 240C, lƣợng mƣa trung bình ba năm 1998, 1999, 2000 là 1.

Hiện nay, tỉnh Bắc Giang có 110.600 ha rừng, (trong đó rừng tự nhiên có 63.832,41 ha, rừng trồng mới có 46.837,65 ha) tập trung chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, YênThế. Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của Bắc Giang thuận lợi cho sản xuất nông - lâm nghiệp. Các ngành kinh tế khác nhƣ giao thông vận tải, thƣơng mại, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, v. Cũng có những điều kiện thuận lợi đảm bảo cho phát triển cũng nhƣ trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh [52, tr.

Tài nguyên đất: Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên; gồm 123 nghìn ha đất nông nghiệp, 110 nghìn ha đất lâm nghiệp, 66,5 nghìn ha đất đô thị, đất chuyên dụng và đất ở, còn lại là các loại đất khác. Nhìn chung, tỉnh Bắc Giang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản. Quốc lộ 1A mới hoàn thành tạo ra quỹ đất lớn có nhiều lợi thế cho phát triển công nghiệp - dịch vụ. Trong đó, đất nông nghiệp của tỉnh ngoài thâm canh lúa còn thích hợp để phát triển rau, củ, quả cung cấp cho Thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận.

Tỉnh Bắc Giang đã có kế hoạch chuyển hàng chục nghìn ha trồng lúa sang phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao. Hơn 55 nghìn ha đất đồi 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com núi chƣa sử dụng là một tiềm năng lớn cho các doanh nghiệp, nhà đầu tƣ liên doanh, liên kết trồng rừng, chế biến lâm sản và nuôi trồng thuỷ sản [128]. Tài nguyên rừng: Bắc Giang có 110 nghìn ha rừng, trong đó có gần 64 nghìn ha rừng tự nhiên và hơn 46 nghìn ha rừng trồng. Trữ lƣợng gỗ có khoảng 3,5 triệu m³, tre nứa khoảng gần 500 triệu cây.

Ngoài tác dụng tán che, cung cấp gỗ, củi, dƣợc liệu, nguồn sinh thuỷ, rừng Bắc Giang còn có nhiều sông, suối, hồ đập, cây rừng nguyên sinh phong phú tạo cảnh quan môi sinh đẹp và hấp dẫn [128]. Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn tỉnh tuy không có nhiều mỏ khoáng sản lớn nhƣng lại có một số là nguồn nguyên liệu quan trọng để phát triển công nghiệp của tỉnh nhƣ: mỏ than đá ở Yên Thế, Lục Ngạn, Sơn Động, có trữ lƣợng hơn 10 triệu tấn; quặng sắt ƣớc khoảng 0,5 triệu tấn ở Yên Thế, gần 100 nghìn tấn quặng đồng ở Lục Ngạn, Sơn Động; 3 triệu tấn cao lanh ở Yên Dũng; 100 m³ sét làm gạch chịu lửa ở Tân Yên, Việt Yên; sỏi, cuội kết ở Hiệp Hoà và Lục Nam [128]. Tình hình kinh tế - xã hội: Điều kiện kinh tế: Bắc Giang là một tỉnh miền núi nhƣng có cả vùng trung du, đồng bằng xen kẽ. Lợi thế kinh tế của tỉnh là nông, lâm nghiệp, thƣơng mại, dịch vụ, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.

Nông, lâm nghiệp đang có sự chuyển dịch cơ cấu một cách tích cực. Tiến bộ khoa học kỹ thuật không ngừng đƣợc ứng dụng, nhất là việc đƣa giống mới, phƣơng pháp canh tác mới. Tốc độ tăng tỷ trọng nông sản hàng hoá mỗi năm đều tăng. Những cây trồng có giá trị kinh tế cao đã đƣợc phát triển, mở rộng ngày một nhanh hơn.

Chăn nuôi theo phƣơng pháp công nghiệp cùng với nuôi trồng thuỷ sản tiếp tục có những bƣớc phát triển rất khả quan. Dịch vụ nông nghiệp không ngừng phát triển đến tận các thôn bản, xóm làng vùng cao, hẻo lánh. Thƣơng mại dịch vụ phát triển nhanh trong nền kinh tế thị trƣờng, nhiều chợ nông 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thôn đã đƣợc khôi phục, mở rộng hoặc nhanh chóng hình thành. Các thị trấn, thị tứ ngày càng sầm uất thêm [128 ].

Công nghiệp là ngành kinh tế có nhiều tiềm năng của tỉnh. Khu công nghiệp Đình Trám rộng hơn 100 ha đã đƣợc các nhà đầu tƣ vào gần kín, ngoài ra còn gần 10 cụm công nghiệp tại các huyện, thị xã đã và đang đi vào hoạt động hoặc đang thiết kế quy hoạch hoàn chỉnh. Từ khi tỉnh có văn bản khuyến khích ƣu đãi đầu tƣ trên địa bàn, sau một năm đã có 114 nhà đầu tƣ đăng ký với tổng số vốn hơn 1.187 tỷ đồng, trong đó 57 dự án đầu tƣ đã đƣợc chấp thuận. Các làng nghề truyền thống ngày càng đƣợc khôi phục và phát triển nhƣ: mây tre đan Tăng Tiến, tơ tằm Song Mai, bún Đa Mai, rƣợu làng Vân, mì Chũ, bánh đa Kế…[128].

Văn hóa - Dân cư: Bắc Giang có đặc điểm văn hóa phong phú và đa dạng, đƣợc quy tụ và thể hiện thông qua đời sống, phong tục, tập quán truyền thống của cộng đồng mỗi dân tộc; biểu hiện qua các sinh hoạt tín ngƣỡng dân gian, tín ngƣỡng tôn giáo ở lễ hội truyền thống. Hội làng tồn tại hàng nghìn năm với các nghi lễ, nội dung, hình thức riêng song mục đích chính của lễ hội đều nhằm giúp cho sự thống nhất, đoàn kết trong cộng đồng làng xã, giáo dục truyền thống văn hoá, lịch sử, truyền thống chống ngoại xâm, truyền thống hiếu học, phát triển ngành nghề. Hàng năm, Bắc Giang có hơn 500 lễ hội truyền thống đƣợc tổ chức; một số lễ hội tiêu biểu ở Bắc Giang nhƣ: lễ hội Yên Thế; lễ hội Xƣơng Giang; lễ hội Suối Mỡ; lễ hội Thổ Hà; lễ hội Chùa La (Vĩnh Nghiêm)… Bắc Giang có hàng nghìn công trình kiến trúc cổ đặc sắc với nhiều loại hình khác nhau nhƣ: Đình, đền, chùa, miếu, phủ, từ đƣờng, văn chỉ… Mặc dù đã mất mát đi rất nhiều, song những công trình còn lại nhƣ: Đình Lỗ Hạnh (Đồng Lỗ - Hiệp Hoà), xây năm 1576; đình Thổ Hà (Vân Hà - Việt Yên) xây dựng năm 1686; đình Phù Lão (Đào Mỹ - Lạng Giang) xây dựng thế kỷ XVII; 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đình Cao Thƣợng, đình Vƣờng, đình Hả (Tân Yên); chùa Vĩnh Nghiêm (Trí Yên - Yên Dũng); chùa Bổ Đà (Việt Yên); lăng họ Ngọ, lăng Dinh Hƣơng (Hiệp Hòa)…, đã thể hiện những dấu ấn đặc sắc về kỹ thuật tạo dựng công trình và nghệ thuật hội họa, điêu khắc tuyệt tác của ngƣời Bắc Giang. Theo thống kê, khảo sát, tính đến 11/2010, trên toàn tỉnh Bắc Giang có 2.237 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh.

Trong số đó đã lập hồ sơ khoa học và pháp lý xếp hạng đƣợc 492 di tích các loại (109 di tích xếp hạng cấp Quốc gia, 383 di tích xếp hạng cấp tỉnh). Trong tổng số 2.237 di tích các loại đƣợc phân bổ ở các huyện, thành phố nhƣ sau: Huyện Sơn Động 24 di tích; huyện Lục Ngạn 173 di tích; huyện Lục Nam 263 di tích; huyện Lạng Giang 237 di tích; huyện Yên Thế 109 di tích; huyện Tân Yên 347 di tích; huyện Hiệp Hoà 385 di tích; huyện Việt Yên 331 di tích; huyện Yên Dũng 318 di tích; thành phố Bắc Giang 50 di tích. Nổi bật là dấu tích thành cổ Xƣơng Giang; khu di tích cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế; khu di tích cách mạng Hoàng Vân, di tích Y Sơn (Hiệp Hoà); cây Dã hƣơng nghìn năm tuổi (Lạng Giang), Kho Mộc bản hơn 3.000 bản đƣợc lƣu giữ tại chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) đã chính thức đƣợc công nhận là Di sản tƣ liệu Khu vực châu Á - TBD (ngày 16/5/2012 tại Bankok, Thái Lan). Bắc Giang cũng là nơi có kho tàng văn nghệ dân gian phong phú nhƣ: Truyện thần thoại, truyện cổ tích, huyền thoại, giai thoại, truyện cƣời, tục ngữ, ca dao, hát ví, hát trống quân, hát quan họ, chèo, ca trù và dân ca của các dân tộc thiểu số.

Dân ca Quan họ và Ca trù đã đƣợc UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Bắc Giang có nhiều cảnh quan thiên nhiên có thể hình thành khu du lịch nhƣ: Khu thắng cảnh Suối Mỡ (huyện Lục Nam); hồ Cấm Sơn, hồ Khuôn Thần (huyện Lục Ngạn); Rừng nguyên sinh Khe Rỗ, Tây Yên Tử (huyện Sơn Động) với những hệ động, thực vật phong phú, đa dạng, trong đó có nhiều loại sinh vật quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam đang đƣợc bảo tồn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ