Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VE CHUYỂN DỊCH CƠ CAU KINH TE NGÀNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Cơ cau Cơ cấu hay còn gọi là cau trúc, xét về mặt triết học, cơ cấu là một phạm trù phản ánh cấu trúc bên trong của một số đối tượng, là tập hợp những mỗi liên hệ cơ bản tương đối 6n định giữa các yếu tố cấu thành đối tượng đó, trong một thời gian, không gian nhất định. Kark Marx đã nói: “Cơ cau ( hay kết cấu) là một khái niệm mà duy vật biện chứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó” [29, tr.
Là một phạm trù triết học, khái niệm cơ cấu được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong, cơ cấu và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của một hệ thống. Cơ cấu được biéu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định. Cơ cấu là thuộc tính của một hệ thống. Do đó, khi nghiên cứu cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống.
Cơ cấu kinh tế Trong các tài liệu kinh tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực va các bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối 6n định hợp thành. Có các loại cơ cau kinh tế khác nhau: cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cơ câu theo ngành kinh tế - kỹ thuật, co cau theo vùng, cơ cau theo đơn vị hành chính - lãnh thé, cơ cấu theo thành phan kinh tế, trong đó cơ cau theo ngành kinh tế - kỹ thuật mà trước hết cơ cấu công - nông nghiệp là quan trọng nhất. Trong thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chiến lược kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay là xây dựng một cơ cấu kinh tế gồm: (1) cơ cấu ngành: phát triển các ngành nông- lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, đồng thời tăng tốc độ phát triển các ngành công nghiệp, mở rộng khu vực dich vu, từng bước đưa nền kinh tế phát triển toàn diện và theo hướng hiện đại, (2) cơ cau thành phan: nền kinh tế có nhiều thành phan, trong đó thành phan kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo, (3) Co câu vùng: phát triển những vùng chuyên môn hoá sản xuất có hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý và thúc day sự chuyển dich cơ cau kinh tế là van đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng phụ thuộc vào sự hiểu biết sâu sắc các nhân tổ kinh tế, xã hội, kỹ thuật cụ thê ở từng vùng trong từng thời gian và khả năng tô chức sản xuất, quản lý kinh tế, trên cơ sở đó khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất tài nguyên, đất đai, sức lao động, tư liệu sản xuất, tạo ra sự phát triển trên mọi vùng đất nước và tạo điều kiện nâng cao đời sống nhân dân nói chung, khắc phục sự lạc hậu của nhiều vùng, nhiều dân tộc. Có thé thay rang “ Cơ cau của nền kinh tế quốc dân là tổng thé những mỗi quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành đó trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định” [1]. Cơ cấu kinh tế còn là tổng thé các mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố và trong từng yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất với những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thé trong những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội. Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống có thể hiểu: cơ cấu kinh tế là một tông thé hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nên kinh tế quốc dân, giữa chúng có những mối liên hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế cụ thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định.
Theo quan điểm nay, cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế và là nền tang của cơ cau xã hội và chế độ xã hội. Một cách tiếp cận khác thì cho rằng: Cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy đủ là một tổng thê hệ thong kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong những không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, được thể hiện cả về mặt định tính lẫn định lượng, cả về số lượng và chất lượng, phủ hợp với mục tiêu được xác định của nên kinh tế [1]. Nhìn chung các cách tiếp cận trên đã phản ánh được mặt bản chất chủ yếu của cơ cau kinh tế. Đó là các van dé: - Tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc gia.
- Số lượng và tỷ trọng của các nhóm ngành của các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế trong tổng thé nền kinh tế đất nước. - Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành, các yếu tỐ. hướng vao các mục tiêu đã xác định. Cơ cau kinh tế còn là một phạm trù, muốn nắm vững bản chất của cơ cấu kinh tế và thực thi các giải pháp nhằm chuyên dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả cần xem xét từng loại cơ cau cụ thé của nền kinh tế quốc dân.
Như vậy cơ cấu kinh tế là một tổng thé bao gồm nhiều nhân tố mang tinh định tính và định lượng, có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong một khoảng không gian và thời gian nhất định trong những điều kiện kinh tế và xã hội nhất định. Nó thể hiện về cả hai mặt số lượng và chất lượng phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã được xác định. Cơ cấu kinh tế ngành Một trong những cơ cấu kinh tế được quan tâm và nghiên cứu nhiều nhất trong môi liên hệ với quá trình tăng trưởng và phát triên nên kinh tê là cơ câu 10 kinh tế ngành. Cơ cau đó về phần minh lại được thé hiện trong quá trình sản xuất tiêu ding và ngoại thương.
Mối quan hệ giữa cơ cấu và sự phát triển kinh tế có vai trò rất quan trọng vì gắn với nó là cả một động thái về sự phân bổ các nguồn lực hạn hẹp của nền kinh tế một cách tối ưu trong những thời điểm nhất định cho các ngành sản xuất khác nhau. Cơ cau kinh tế ngành là tổ hợp các ngành hợp thành tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành đó trong nền kinh tế quốc dân. Sự phát triển nền sản xuất xã hội từ kinh té tự nhiên tới kinh tế hàng hoá cũng có nghĩa là xuất hiện những ngành sản xuất độc lập nhau, dựa trên những đối tượng sản xuất khác nhau, sản xuất ngày càng phát triển thì tap hop ngành kinh tế quốc dân càng trở nên phức tạp và đa dạng. Ở đây, cơ cấu ngành kinh tế biểu hiện ra dưới các hình thức ngành lớn (ngành cấp I): công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.
Dựa vào phân công lao động đặc thu, trong mỗi ngành lớn lại có thể phân thành các phân ngành (ngành cấp II): trong nông nghiệp có trồng trọt, chăn nuôi.; trong công nghiệp có công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ.; trong dịch vụ có dịch vụ thương mại, du lịch, vận tải, bảo hiểm. Ngành cấp III ( lúa , màu,.) trong trồng trọt. 6] Sự vận động của các ngành kinh tế và mối liên hệ của nó vừa tuân theo những đặc điểm chung của sự phát triển sản xuất xã hội, lại vừa mang những nét đặc thù của mỗi giai đoạn và mỗi quốc gia. Vì vậy nghiên cứu cơ cấu này là nhằm tìm ra những cách thức duy trì tinh tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ đặng thúc đây sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Cơ cầu kinh tế theo ngành Colin Clark, nhà kinh tế học người Anh đã đưa ra phương pháp phân loại toàn bộ hoạt động của nên kinh tế thành ba ngành. 11 - Ngành thứ I: Sản phẩm được sản xuất ra có nguồn gốc tự nhiên. - Ngành thứ II: Gia công các sản phẩm được sản xuất ra có nguồn gốc tự nhiên. - Ngành thứ III: Ngành sản xuất ra của cải vô hình.
Đề thống nhất tiêu chuẩn phân loại ngành giữa các nước, Liên hiệp quốc đã ban hành “Hướng dẫn phân loại ngành theo tiêu chuẩn quốc tế đối với toàn bộ các hoạt động kinh tế”. Tiêu chuẩn này cũng được gom lại thành ba bộ phận nên nó trùng hợp với phương pháp phân loại của Colin Clark. Cơ cấu kinh tế nội bộ các ngành Sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc đã hình thành các phân ngành nhỏ trong mỗi ngành kinh tế lớn. Chăng hạn trong nông nghiệp, phân công lao động hình thành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản.
Trong nông nghiệp lại chia thành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ. Tiếp đó trồng trọt lại chia thành sản xuất cây công nghiệp và cây lương thực. Mỗi ngành sẽ được phân bổ số lượng nguồn lực nhất định chúng tạo ra một mức sản lượng nhất định. Tập hợp lại các ngành con sẽ tạo ra một cơ cầu kinh tế trong nội bộ ngành qua đó quyết định sự phát triển của ngành chính.
Như vậy, cơ cấu kinh tế nội bộ các ngành này phản ảnh mối quan hệ số lượng và chất lượng giữa các bộ phận (ngành nhỏ) trong nội bộ ngành của nền kinh tế quốc dân trong việc phân bổ nguồn lực và mức sản lượng hàng hoá dich vụ được tạo ra. - Nhóm ngành nông nghiệp: Bao gồm các ngành nông, lâm, ngư nghiệp. - Nhóm ngành công nghiệp xây dựng : Bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng - Nhóm ngành dịch vụ: Bao gồm thương mại, bưu điện, du lịch. Chuyến dịch cơ cau kinh tế ngành Chuyên dich cơ cấu ngành kinh tế là sự vận động, phát triển của các ngành 12 làm thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ và mối quan hệ, tương tác giữa chúng theo thời gian và không gian, dưới tác động của những yếu tố kinh tế - xã hội nhất định của trong nước và quốc tế.