Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp 1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp Khái niệm cơ cấu kinh tế Cơ cấu là một phạm trù triết học được sử dụng để phản ánh cấu trúc bên trong, những tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận của một hệ thống hoặc của một đối tượng.
Cơ cấu được hiểu như một tập hợp những quan hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành của đối tượng xem xét. Cơ cấu kinh tế là tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, có mối quan hệ gắn bó với nhau, tác động qua lại với nhau trong quá trình vận động và phát triển. Cơ cấu kinh tế về thực chất bao gồm những vấn đề sau: - Thứ nhất, các yếu tố cấu thành nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế quốc dân là tổng thể các ngành kinh tế với các loại hình doanh nghiệp được bố trí tại những địa điểm nhất định.
Các yếu tố cấu thành nền kinh tế quốc dân bao gồm: Các ngành kinh tế; các loại hình doanh nghiệp với quy mô, trình độ công nghệ khác nhau dựa trên những quan hệ cơ hữu nhất định; các vùng lãnh thổ nơi định vị cho các doanh nghiệp hoạt động. - Thứ hai, tỷ lệ của các yếu tố cấu thành nên nền kinh tế quốc dân. Điều này nói lên tỷ lệ giữa các ngành kinh tế thể hiện như thế nào? Tỷ trọng doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ là bao nhiêu? Thành phần doanh nghiệp nhà nước và các loại hình doanh nghiệp khác là bao nhiêu? Tỷ lệ giữa thành thị và nông thôn, vùng đồng bằng, ven biển, miền núi trong nền kinh tế như thế nào?. - Thứ ba, sự biến đổi của tỷ lệ các yếu tố cấu thành nên nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu kinh tế không phải là cơ cấu tĩnh, nó là cơ cấu động. Trong quá trình phát triển, dưới tác động của những nhân tố khách quan và chủ quan các bộ phận cấu thành và tỷ lệ của nó thường biến đổi. 6 Trên cơ sở đó, có thể khái niệm cơ cấu kinh tế như sau: “Cơ cấu kinh tế là phạm trù kinh tế biểu hiện cấu trúc bên trong của nền kinh tế, là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về chất và lượng tương đối ổn định của các yếu tố do các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định” [16,4] Trong bất kỳ một nền kinh tế nào, cơ cấu kinh tế cũng bao gồm các loại chủ yếu sau đây: - Cơ cấu ngành kinh tế là cơ cấu kinh tế quan trọng nhất, là tổ hợp các ngành của nền kinh tế. Nó biểu thị quan hệ giữa các ngành kinh tế, những tổng thể đơn vị kinh tế cùng thực hiện một loại chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội theo ngành để sản xuất ra những sản phẩm hoặc những dịch vụ có những đặc tính chung nhất định.
Sự phát triển các ngành kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan, do sự phát triển của phân công lao động xã hội quyết định. Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, thuở bình minh của loài người cơ cấu kinh tế là nông nghiệp. Khi phân công lao động phát triển, thủ công nghiệp tách khỏi nghề nông và trở thành ngành công nghiệp thì cơ cấu kinh tế của các nền kinh tế chuyển thành nông - công nghiệp. Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp làm cho nó chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế chuyển từ nông - công nghiệp sang công - nông nghiệp.
Vào những năm giữa thế kỷ XX, khi lĩnh vực dịch vụ phát triển nhanh chóng, đóng góp quan trọng vào việc tạo ra sự giàu có của đất nước, ngành dịch vụ trở nên quan trọng trong cơ cấu các ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh sang công - nông nghiệp - dịch vụ. Ngày nay, trong nền kinh tế hiện đại, cơ cấu ngành kinh tế bao gồm ba nhóm ngành chính: Nhóm ngành nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp và thuỷ sản); nhóm ngành công nghiệp (công nghiệp và xây dựng); nhóm dịch vụ (thương mại, du lịch, bưu điện, tài chính, ngân hàng.) - Cơ cấu thành phần kinh tế là cơ cấu sở hữu của nền kinh tế. Như ta biết lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của nền kinh tế. Nếu cơ cấu ngành 7 kinh tế trực tiếp do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội quyết định, thì cơ cấu thành phần kinh tế trực tiếp do bản chất của quan hệ sản xuất, mà trước hết là quan hệ sở hữu quyết định.
Trong nền kinh tế, nhìn chung có hai loại sở hữu là sở hữu công và sở hữu tư. Song quá trình phát triển của lực lượng sản xuất đã làm xuất hiện hình thức sở hữu hỗn hợp. Qua đó có thể thấy được mức độ thống trị của quan hệ sản xuất chủ đạo trong tiến trình phát triển của phương thức sản xuất. - Cơ cấu vùng kinh tế là sự bố trí vùng, lãnh thổ của nền kinh tế.
Cơ cấu vùng kinh tế theo lãnh thổ phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không gian địa lý. Cơ cấu này do điều kiện khí hậu, tài nguyên thiên nhiên quyết định. Ở mỗi vùng lãnh thổ được bố trí các ngành sản xuất khác nhau theo một tỷ lệ thích ứng để khai thác triệt để các ưu thế, đặc thù của từng vùng, đồng thời để hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển. Rõ ràng trong nền kinh tế, các ngành, các loại hình doanh nghiệp phải được xây dựng ở những địa điểm nhất định.
Việc xây dựng ngành nào, loại hình doanh nghiệp nào, ở đâu, trước hết là phải dựa vào điều kiện tự nhiên, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên của vùng lãnh thổ đó. Người ta không tuỳ tiện bố trí một doanh nghiệp khai thác lâm sản ở vùng biển và ngược lại cũng không thể nào bố trí một doanh nghiệp đánh cá biển ở trên rừng. Trong một nước, dựa vào lãnh thổ người ta chia thành các vùng: Thành phố, nông thôn, đồng bằng, vùng ven biển và vùng núi. Vì vậy, cơ cấu lãnh thổ của nền kinh tế là: Cơ cấu đô thị - nông thôn; cơ cấu miền núi - trung du, đồng bằng, ven biển.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nông - lâm - ngư nghiệp là hệ thống nhỏ trong hệ thống lớn của cơ cấu kinh tế. Cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp cũng là một cấu trúc gắn bó hữu cơ nhiều nhân tố tác động qua lại lẫn nhau cùng tồn tại và phát triển trong những thời gian và không gian nhất định. Do đó, cơ cấu nông nghiệp bao gồm các ngành sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng, nuôi trồng đánh bắt thủy sản. Bản thân nhiều ngành trong nông nghiệp lại là những hệ thống nhỏ, có những yếu tố, những thuộc tính giống nhau tạo thành hệ thống nhỏ hơn.
Sản xuất nông nghiệp luôn phát triển, cơ 8 cấu các ngành trong nông nghiệp cũng vận động, biến đổi mở rộng theo. Nhờ tác động công nghiệp cơ cấu ngành nông nghiệp còn có thêm các ngành, như: chế biến lương thực, thực phẩm, dịch vụ nông nghiệp… mang tính chuyên môn hóa rõ rệt. Khi bước sang xã hội hậu công nghiệp, không thể không phát sinh thêm những ngành mới nữa (công nghệ sinh học, tin học nông nghiệp). Thiếu những ngành này không thể có ngành nông nghiệp hoàn chỉnh.
Do vậy, cơ cấu nông nghiệp trước hết là một bộ phận của cơ cấu kinh tế, là một ngành lớn, một tổng thể hữu cơ của nhiều ngành nhỏ, với nhiều cấp hệ khác nhau, không ngừng hoàn thiện và phát triển trong sự ổn định tương đối, trong các mối quan hệ khắn khít, tác động và tùy thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố, được xác định bằng các quan hệ tỷ lệ về số lượng và chất lượng. Cơ cấu nông nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện tự nhiên và các điều kiện kinh tế - xã hội. Theo nghĩa chung nhất cơ cấu kinh tế nông nghiệp là mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền nông nghiệp của một quốc gia, một vùng, một địa phương. Trong tổng thể các mối quan hệ phản ánh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đáng chú ý nhất là quan hệ giữa các ngành sản xuất, giữa các vùng sinh thái và các thành phần kinh tế.
Các mối quan hệ này được xác định theo các yếu tố sản xuất và kết quả sản xuất [12] Cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm: cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và cơ cấu thành phần kinh tế. - Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành Kinh tế nông nghiệp theo ngành, gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Trong từng ngành cụ thể được phân ngành theo sản phẩm, như: ngành sản xuất cây lương thực, thực phẩm, rau quả, cây công nghiệp ngắn và dài ngày, trồng rừng, chăm sóc, chăn nuôi gia súc, gia cầm, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản. Chuyên môn hoá càng cao và phân công lao động càng sâu thì phân ngành càng chi tiết, đa dạng.
Sự hình thành các ngành sản xuất chuyên môn hoá phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và được thể hiện trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia, địa phương trong từng giai đoạn cụ thể. Vì vậy, việc xác 9 định và phát triển đúng hướng các ngành chuyên môn hoá trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế của địa phương và của từng vùng. Nó sẽ sử dụng một cách hợp lý các điều kiện đặc thù, làm tăng năng suất lao động từng ngành và lao động xã hội, tiết kiệm vốn đầu tư, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn, chất lượng cao, giả rẻ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội bộ và xuất khẩu. Các nhân tố làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành, gồm: Mức thu nhập bình quân đầu người; các yếu tố đầu vào (đất đai, vốn, lao động và các nguồn lực khác); sự phát triển của khoa học - công nghệ; quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.