mở đầu tiên năm 1075 (thời Lý) cho đến năm 1788 (thời Lê Trung Hƣng), số ngƣời đỗ đại khoa ở xứ Kinh Bắc: 593, phủ Từ Sơn: 282, riêng huyện Đông Ngàn chiếm 138 ngƣời đỗ tiến sĩ, trong đó có bốn ngƣời đỗ trạng nguyên: Nguyễn Quán Quang (Tam Sơn), Nguyễn Giản Thanh (Hƣơng Mạc), Ngô Miễn Thiệu (Tam Sơn), Nguyễn Xuân Chính (Phù Chẩn). Nơi đây có nhiều dòng họ có truyền thống Nho học liên tục đƣợc phát huy. Các thế hệ nối tiếp nhau có nhiều ngƣời đỗ đạt làm quan. Các làng tiêu biểu: Tam Sơn, Hƣơng Mạc, Vĩnh Kiều, Phù Chẩn, Trang Liệt, Vân Điềm, Cẩm Giang với các dòng họ nhƣ: dòng họ Ngô (Ngô Luân, Ngô Thầm, Ngô Miễn Thiệu, Ngô Diễn, Ngô Dịch…), dòng họ Nguyễn (Nguyễn Quán Quang, Nguyễn Khiết Tú, Nguyễn Tự Cƣờng…) (Tam Sơn), dòng họ Đàm (Đàm Thận Hy, Đàm Thận Giản…) (Hƣơng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mạc), dòng họ Nguyễn (Nguyễn Thực, Nguyễn Quai, Nguyễn Sĩ, Nguyễn Thẩm) (Vân Điềm)… đều thi đỗ và làm quan trong triều.
Sau này có các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Ngô Gia Tự, Lê Quang Đạo… cùng với các anh hùng, liệt sĩ, những ngƣời dân của đất Từ Sơn đã cống hiến tài năng, trí tuệ, xƣơng máu trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chống Tàu bảo vệ độc lập dân tộc. Trải qua nhiều thế hệ cho đến ngày nay, các cá nhân, dòng họ nói riêng, những ngƣời dân Từ Sơn nói chung luôn ý thức học hỏi, không ngừng kế thừa và phát huy truyền thống hiếu học, phấn đấu, trƣởng thành đóng góp những nhân tài vào dựng xây và phát triển quê hƣơng, đất nƣớc đẹp giàu. Truyền thống đấu tranh yêu nước Từ Sơn là một địa bàn quan trọng, nằm trên trục đƣờng đƣờng giao thông chính nối từ phía Bắc toả đi các vùng phía Nam. Ngay từ thời Hùng Vƣơng dựng nƣớc, nơi đây đã chứng kiến những chiến công oanh liệt của cha ông đánh tan quân xâm lƣợc phƣơng Bắc qua các triều đại ở Việt Nam.
Thế hệ sau nối tiếp thế hệ trƣớc phát huy truyền thống yêu nƣớc chống ngoại bang. Nhiều ngƣời dân của Từ Sơn đã hy sinh thân mình vì tổ quốc, quê hƣơng. Công lao của họ mãi đƣợc nhân dân nhớ ơn và ghi trong lịch sử quê hƣơng, đất nƣớc. Vào những năm đầu của thế kỷ XX, Từ Sơn là một trong những địa phƣơng đã nhạy bén tiếp thu đƣờng lối cách mạng mới do đồng chí Nguyễn Ái Quốc đƣa về và đã tích cực hoạt động, nhanh chóng xây dựng cơ sở cách mạng đầu tiên.
Chi hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại làng Tam Sơn, huyện Từ Sơn là chi hội đầu tiên của tỉnh Bắc Ninh - chi hội thử nghiệm của Ngô Gia Tự về công tác tuyên truyền vận động thanh niên yêu nƣớc ở nông thôn có học thức đi theo con đƣờng cách mạng vô sản. Từ thành công này, chi hội đã đƣợc phát triển rộng trên địa bàn huyện Từ Sơn và tỉnh Bắc Ninh. Đến tháng 6 - 1927, tỉnh Bắc Ninh có sáu chi hội gồm khoảng 40 hội viên. Tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tiếp tục phát triển ở huyện Từ Sơn và tỉnh Bắc Ninh.
Thời kỳ cách mạng 1930 - 1931 và 1936 - 1939, ở phố Từ Sơn, các làng Phù Lƣu, Cẩm Giang, Trang Liệt… cũng có các tổ chức phƣờng, hội với hàng trăm quần chúng tham gia, có phong trào đọc sách báo tiến bộ, phong trào truyền bá chữ quốc ngữ: tiêu biểu có Đình Bảng, Phù Lƣu… Nhân dân Từ Sơn có trình độ giác ngộ cách mạng, nhiệt tình yêu nƣớc. Hàng chục, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng trăm quần chúng ở hàng chục làng xóm, phố phƣờng đã tham gia đấu tranh chống thực dân, phát xít, chống phản động thuộc địa giành quyền lợi dân sinh, dân chủ, cơm áo, hoà bình và các tổ chức ái hữu, nghiệp đoàn, hội quần chúng công khai hợp pháp [5, 57]. Thời kỳ 1939 - 1945 là thời kỳ đấu tranh sôi động nhất của quân và dân Từ Sơn. Phong trào cách mạng tƣơng đối mạnh, lại ở vị trí thuận lợi, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của cả nƣớc, là chiếc cầu nối giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ, thủ đô Hà Nội với các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc tổ quốc cho nên đƣợc Trung ƣơng Đảng và xứ uỷ Bắc Kỳ chọn và trực tiếp chỉ đạo các cơ sở cách mạng chuyển vào hoạt động bí mật bất hợp pháp từ cuối năm 1939 nhƣ cơ sở cách mạng ở làng Đình Bảng, làng Phù Lƣu, Cẩm Giang, Trang Liệt, Phù Khê, Tam Sơn [5, 60-61].
Trong thời gian này, nhiều lớp thanh niên học sinh yêu nƣớc Từ Sơn đã trở thành cốt cán của phong trào thời kỳ đầu bƣớc vào hoạt động bí mật: Lê Quang Đạo, Nguyễn Duy Thân… Nhiều nhà là cơ sở, nơi ăn ở, hội họp của các đồng chí cán bộ của Xứ uỷ Bắc Kỳ và thƣờng vụ Trung ƣơng Đảng nhƣ nhà cụ Nguyễn Tiến Tuân (tức Đàm Thi), nhà cụ Hƣơng Canh (Đình Bảng)… Nhiều đoàn viên thanh niên phản đế cũng đƣợc kết nạp vào Đảng. Nhiều chi bộ ghép đã tích cực hoạt động, nhanh chóng xây dựng, phát triển các tổ chức quần chúng tiêu biểu nhƣ chi bộ: Đình Bảng - Phù Lƣu - Cẩm Giang. Tại Từ Sơn đã diễn ra Hội nghị Trung ƣơng lần thứ VII (từ ngày 9 đến ngày 11-11-1940); nơi ra đời bản chỉ thị lịch sử (ngày 12-3-1945) “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” - kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng, toàn dân trong thời kỳ kháng Nhật, cứu nƣớc và khởi nghĩa giành chính quyền Tháng tám năm 1945. Thời kỳ cao trào kháng Nhật cứu nƣớc tiến lên giành chính quyền về tay cách mạng, Từ Sơn hoà chung trong không khí cùng các địa phƣơng trong toàn quốc đã dùng có hình thức tổ chức, hình thức đấu tranh chống áp bức bóc lột của phát xít Nhật, cƣờng hào, ác bá.
Tiêu biểu cuộc đấu tranh chống quân đội Nhật lấy thóc tại làng Phù Ninh (Từ Sơn) là cuộc đấu tranh có sự tham gia của hàng nghìn quần chúng, gây tiếng vang lớn trong vùng, trong tỉnh Bắc Ninh. Tinh thần nổi dậy 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quật khởi, đấu tranh của quần chúng dâng cao hơn lúc nào hết làm cho bọn lính Nhật hoảng sợ tháo chạy. Tháng Tám mùa thu năm 1945, toàn bộ chính quyền cấp cơ sở, cấp phủ ở Từ Sơn đã về tay cách mạng, trong đó Đình Bảng giành chính quyền sớm nhất. Ngày 18-8-1945, nhân dân toàn huyện Từ Sơn nhất tề đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, mở ra một kỷ nguyên mới: độc lập - tự do.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), nhân dân Từ Sơn cùng nhân dân trong tỉnh và cả nƣớc ra sức bảo vệ chính quyền non trẻ, đã tích cực đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh, đồng thời tiến hành chiến tranh du kích, diệt tề, trừ gian, tiêu diệt sinh lực địch, góp sức cùng cả nƣớc đánh bại những âm mƣu thâm độc của thực dân Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ (tháng 5 - 1954) đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong 21 năm (1954 - 1975) tiếp theo, nhân dân Từ Sơn cùng nhân dân miền Bắc phấn khởi bƣớc vào thời kỳ mới, thời kỳ bắt tay vào thực hiện cải cách ruộng đất, khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội và vừa sản xuất, vừa chiến đấu chống sự phá hoại của đế quốc Mĩ, hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ hậu phƣơng của mình: chi viện sức ngƣời, sức của cho đồng bào miền Nam ruột thịt đấu tranh thống nhất nƣớc nhà. Truyền thống đấu tranh và bảo vệ, dựng xây đất nƣớc của cha ông là một động lực lớn mà ngày nay nhân dân Từ Sơn đã và đang kế thừa, phát huy, không ngừng học hỏi, nỗ lực phấn đấu vƣơn lên xứng đáng là một vùng phát triển đầy tiềm năng, hứa hẹn thu hút sự đầu tƣ của các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc, sớm trở thành đô thị phát triển của tỉnh và của cả nƣớc.
Những ngành nghề thủ công truyền thống Từ lâu, Từ Sơn nổi tiếng với nhiều ngành nghề truyền thống. Theo sách “Bắc Ninh phong thổ tạp ký” thì ở vùng Đông Ngàn - Từ Sơn thời kỳ trƣớc cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã nổi tiếng với nhiều ngành nghề thủ công truyền thống gắn liền với những địa danh nhƣ: - Nghề thợ mộc, chạm khắc trên gỗ ở các xã Phù Khê, Hƣơng Mạc, Đồng Quang, Tân Hồng. - Nghề thợ sơn, sơn mài, nhuộm thâm ở xã Đình Bảng, Tân Hồng. - Nghề rèn sắt ở Đa Hội (Châu Khê).
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nghề dệt vải, dệt lụa ở Tam Sơn, Tƣơng Giang. Hầu hết các ngành nghề truyền thống trên gắn với các sản phẩm từ bao đời nay đã nổi tiếng khắp cả nƣớc. Trong đó nghề mộc - chạm khắc gỗ xuất hiện trên đất Phù Khê có từ bao giờ, cho đến nay chƣa có tƣ liệu để xác minh, nhƣng qua một số công trình kiến trúc có giá trị do những ngƣời thợ ở Từ Sơn đặc biệt ngƣời Phù Khê làm còn để lại nhƣ chùa Tây Phƣơng (Hà Tây), chùa Bút Tháp (Thuận Thành), chùa Lim (Tiên Du) cho đến đình Diềm Xã, đình Đình Bảng. Có thể thấy nghề mộc - chạm khắc ở đây đã xuất hiện từ khá sớm, đặc biệt vào thời Hậu Lê thế kỷ XVII - XVIII, làng nghề chạm khắc ở Phù Khê đã nổi tiếng khắp nơi và nó đƣợc phát triển sang nhiều địa phƣơng khác quanh vùng nhƣ Đồng Kỵ, Hƣơng Mạc, Tam Sơn.
Sản phẩm của họ gắn bó từ những đồ gia dụng trong gia đình đến đồ thờ cúng, tạc tƣợng đặc biệt là những công trình kiến trúc lớn nhƣ đình, chùa, miếu, phủ, lăng tẩm chạm khắc rồng, phƣợng lộng lẫy. Do cần cù, chịu khó, cộng với óc thẩm mỹ tinh tế và đôi bàn tay khéo léo, ngƣời dân các địa phƣơng Phù Khê, Hƣơng Mạc, Đồng Kỵ đã phát triển nghề mộc với nhiều loại hình nhƣ: hàng ngang (làm nhà cửa, làm đồ gia dụng); hàng chạm (hƣơng án, long khám, long châu, hoành phi, câu đối, tủ, xa lông, tủ chè. Ở loại hình nào, ngƣời Phù Khê, Hƣơng Mạc, Đồng Kỵ cũng cho ra đời những sản phẩm đạt đến trình độ khéo léo, tinh xảo và thẩm mỹ cao. Bên cạnh nghề mộc, nghề rèn sắt chủ yếu ở Đa Hội (Châu Khê) cũng khá phát triển.
Nghề này chuyên cung cấp công cụ lao động và sinh hoạt cho cả một vùng.