Mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) được các quốc gia đang phát triển xem là “trụ cột của sự phát triển kinh tế” (Joze Mencinger, 2008). Tác động tích cực của FDI đến nền kinh tế đã được chứng minh trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn. Hầu hết những quốc gia nào có chính sách đứng dan trong việc thu hút FDI và mang lại nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn thì tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao.
Điển hình có thé kế đến Trung Quốc, một trong những quốc gia có sự tăng trưởng vượt bậc trong những năm gan đây, đặc biệt có thé kế đến năm 2020 với tổng GDP thực tế cao thế giới và vào năm 2020 cũng là năm Trung Quốc nhận nguồn vốn FDI kỷ lục. Chắc chắn đây không chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, mà nó càng chứng minh được mối quan hệ giữa FDI va tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, xuất khẩu cũng là một yếu tố tác động không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế. Điều này được chứng minh qua rất nhiều nghiên cứu trước đây và ngay cả qua thực tế Trung Quốc năm 2020 với xuất khâu tăng mạnh bat chấp đại dịch Covid-19.
Khi xuất khẩu nhiều tức mang lại ngoại tệ cho quốc gia xuất khẩu, làm dòng tiền chảy vào và từ nó đền kinh tế của quốc gia sẽ được thúc day dé phát triển mạnh hơn. Cả hai biến số FDI và xuất khâu đều tác động một cách tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế, vậy nó có mối quan hệ nào với nhau không? Đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển, với nguồn lực đồi dào về nhân lực và cơ hội dé phát triển rat lớn vì là các nước đi sau, chỉ cần có một nguồn vốn dau tư đủ lớn thì quốc gia đó sẽ phát triển rất nhanh. Điển hình như Việt Nam chúng ta, sau 33 năm tinh từ năm 1988 đến 2020 sau khi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam bắt đầu có hiệu lực, hiện đã có 33.070 dự án được đầu tư bởi 112 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tiến hành chọn Việt Nam lam địa điểm đầu tư. Chỉ tính trong một vài năm gần đây, giá trị vốn FDI tại các nước đang phát triển khu vực Đông Nam Á đã tăng rất nhiều.
Mặc dù so với nhiều khu vực khác, các con số trên là chưa thực sự ấn tượng tuy nhiên đối với các quốc gia này đây lại là một nguồn vốn đặt biệt rất quan trọng. Bởi phần lớn các quốc gia khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là các nước đang phát trién có nguồn vốn chưa lớn nên FDI chính là nguồn bổ sung von cần thiết cho các quốc gia đó. Nguồn vốn FDI là cở sở góp phần chuyền đổi cơ cau nền kinh tế, giúp nền kinh tế phát triển theo hướng hiện đại, đem lại những tiễn bộ kỹ thuật cho nước nhận đầu tư. Từ đó từng bước tiễn hành công nghiệp hóa Và giải quyết những vẫn đề việc làm, đảo tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Ngoài ra, FDI được xem là có tác động đến xuất khâu đem lại nguồn thu 9 ngoại tệ cho quốc gia nhận đầu tư. Có thé lay dẫn chứng tại Việt Nam năm 2020, Dẫn đầu danh sách xuất khẩu của Việt Nam là hai mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 45 tỷ USD là điện thoại và các loại linh kiện (51,97 tỷ USD) và máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (45,05 tỷ USD). Đây đều là hai mặt hàng được sản xuất ra từ các công ty, doanh nghiệp FDI. Việt Nam hiện nay đang là nước được đánh giá là quốc gia đang phát triển và là một trong những quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á.
Vậy FDI có thực sự tác động đến xuất khâu ở các quốc gia đang phát triển đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, bài nghiên cứu sẽ giải quyết được vân đê này. Các bài nghiên cứu trước đây phần lớn xem xét và phân tích tác động của nguồn vốn FDI trong doanh nghiệp đối với kết quả xuất khâu của doanh nghiệp đó. Xem rằng nếu một công ty có tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài cao thì hoạt động xuất khâu của công ty đó là hiệu quả hay không hiệu quả. Ngoài ra, các bài nghiên cứu trước cũng xem xét rất nhiều tác động của OFDI đối với xuất khâu, tức xuất khâu của nước đó bị ảnh hưởng như nảo bởi quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của chín quốc gia đó.
Chính vì vậy bài nghiên cứu này muốn làm rõ vẫn đề là tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoai đến xuất khẩu đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển tại khu vực Đông Nam Á. Mục tiêu nghiên cứu Bài nghiên cứu này có các mục tiêu sau đây: - _ Tổng hợp những kiến thức chung liên quan đến FDI và xuất khẩu. - __ Đánh giá ảnh hưởng của FDI đến xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển khu vực Đông Nam Á 2005- 2020. Câu hỏi nghiên cứu FDI và xuất khẩu ở các quốc gia đang phát triển khu vực Đông Nam Á có mối quan hệ như thé nao trong giai đoạn 2005- 2020? 4.
Giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu: FDI có tác động tích cực đến xuất khâu ở các quốc gia đang phát triển khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2005-2020. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa FDI và xuất khẩu. 10 Phạm vi nghiên cứu: + Không gian: tại 9 quốc gia đang phát triển khu vực Đông Nam Á bao gồm: Cambodia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Thái Lan, Đông Timor và Việt Nam. Trong đó bỏ đi hai nước là Brunei và Singapore vì là các quốc gia phát triển (theo số liệu 2020).
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tông quan nghiên cứu 1. Lý thuyết cơ bản về FDI Mặc dù ra đời sau các hoạt động kinh tế đối ngoại khác vài ba thập kỷ tận những năm 1960- 1970 khi xuất hiện các nước NICs và các nước đang phát triển có dòng đầu tư vào nhau. Nhưng FDI khang định được vị thé của mình, thé hiện một vai trò to lớn trong quan hệ đối tác quốc tế của mỗi quốc gia. Nó được các quốc gia trên thế giới vô cùng quan tâm và dan trở thành nhu cau tất yếu dé phát triên.
Có rất nhiều khái niệm liên quan đến FDI, mỗi tác giả hoặc tô chức lại có một quan niệm khác nhau về FDI. Tuy nhiên, về bản chất do nhu cầu của hai bên (nhà đầu tư và thu hút đầu tư) nên có sự gặp gỡ đến từ hai bên, từ đó sinh ra FDI. Cụ thê, FDI là đầu tư trực tiếp nước ngoài nghĩa là tai sản từ một cá nhân, tô chức của nước nay đem đầu tư vào nước khác. Đề hiểu rõ hơn ta sẽ cùng xem xét một số khái niệm của IMF và WTO.
FDI (Foreign Direct Investment) hay đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là cách cá nhân hoặc tô chức của một nước mang tài sản của mình đi đầu tư vào nước khác. Đây là hình thức đầu tư dài hạn, khi đầu tư các chủ đầu tư sẽ xây dựng cơ sở kinh doanh hoặc nhà xưởng, công ty tại các nước nhận đầu tư. Mục đích của việc đầu tư là đạt được lợi ích lâu dài và quản lý cơ sở kinh doanh đầu tư. (IMF, Balance of payments manual, 1993) Theo WTO- Tổ chức thuong thé giới, FDI được định nghĩa được chi tiết hơn.
Cụ thể: “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xuất hiện khi có nhà đầu tư ở một quôc gia nao đó (nước chủ đâu tư) đâu tư, sở hữu và có quyên tai sản ở nước sở 11 tại. Quốc gia còn lại (nước thu hút đầu tư) là quốc gia lưu trữ tai sản đó. Dé phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác ta dựa vào phương thức quản lý tài sản đó.” FDI có vai trò to lớn với nền kinh tế của mỗi quốc gia. Tuy nhiên không có bât kỳ hoạt động kinh tê nào là hoàn hảo cả, FDI cũng vậy nó tác động đên nên kinh tê một cách hai mặt.
Đâu tiên, ta sẽ nói đên tác động tích cực của nó. Các điểm tích cực của FDI bao gồm: - Thi nhất, chủ doanh nghiệp và người quan ly là những người có kỹ năng và kinh nghiệm tốt do họ là những người ngoại quốc có kiến thức chuyên môn cao. - Thứ hai, khi đầu tư tại các nước có tiềm năng lớn sẽ khai tác tối đa được nguồn tài nguyên và nguồn nhân lực đông đảo. Mang lại cơ hội việc làm lớn giảm thất nghiệp và từ đó nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ có thé được đào tạo ra trong quá trình làm việc.
- _ Thứ ba, các doanh nghiệp FDI là những doanh nghiệp có tiền lực kinh tế lớn, từ đó giúp mở rộng thị trường mang lại giá cả cạnh tranh hơn. Giá thành sản phẩm sẽ phù hợp hơn với thu nhập của người tiêu dùng. - _ Thứ tư, tránh các rào cản thương mại và thuế quan của nước sở tại. - Thi năm, giúp kinh tế tăng trưởng mạnh nhờ nguồn vốn đầu tư vào phát triển kinh tế xã hội.
- Cuối cùng, đem lại lợi nhuận va nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước đối với cả quoc gia dau tư và nhận dau tư. Không thể phủ nhận những tác động tích cực mà FDI mang lại với nền kinh tế của mỗi quốc gia, tuy nhiên ta cũng phải nói đến những tác động tiêu cực mà chúng đem lại. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế ta cần quan tâm về dài hạn, cần có những hướng đi đứng đắn, có kế hoạch và phương hướng phát triển lâu dài. Chính vì vậy ta cần xem xét kỹ lưỡng nhiều mặt dé xem đâu mới là điều nên làm với nền kinh tế của quốc gia mình.
Đối với FDI, không thể tránh được những mặt hạn chế, cụ thé có thé kế đến: - _ Khi dau tư sang một quôc gia mới việc đôi mặt với một môi trường đâu tư mới với những văn hóa, chính trị mới là điêu không thê tránh khỏi. Nêu các quôc gia gan nhau, có nét tương dong về nhiêu mặt thì việc thích nghi sé dé 12 dàng hơn. Tuy nhiên, có nhiều quốc gia có quá nhiều khác biệt thì nó sẽ là rào cản đầu tư vô cùng lớn, việc quyết định đầu tư hay không cần xem xét kỹ lưỡng và có định hướng lâu dài.