CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NANG LỰC CẠNH TRANH CUA DOANH NGHIỆP 1. Khai niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh đã được thừa nhận là một trong những quy luật tất yếu của thị trường.
Vai trò của cạnh tranh đã và đang được công nhận rộng rãi ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nó là một trong những quy tắc căn bản trong tô chức quản lý và vận hành nền kinh tế vĩ mô nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh (HĐSXKD) của doanh nghiệp nói riêng. Có thé hiểu cạnh tranh là qud trình giành giật, tranh dau không ngừng giữa những chủ thể kinh tế để có được lợi thé và các điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trên thị trường nhằm đạt được những mục đích kỳ vọng và mục tiêu kinh tế của chủ thể đó. Nhìn chung định nghĩa về cạnh tranh đã có sự biến đôi đáng kể theo sự thay đổi các hình thái kinh tế xã hội xuyên suốt lich sử phát triển nhân loại nhưng không thay đổi về bản chất.
Với xu thế hội nhập quốc tế và tự do hóa thương mại như ngày nay, tuy không còn mang tính giai cấp và tính chính trị nhưng tựu chung lại cạnh tranh luôn có ba đặc điểm chính: - _ Mục tiêu cạnh tranh: Gia tăng lợi ích kinh tế và nâng cao vi trí của chủ thể kinh tế trên thị trường. - Phuong thức cạnh tranh: Vận dụng hiệu quả những nguồn lực khan hiếm của chủ thé nhằm tạo ra các lợi thế cạnh tranh (gia cả, chất lượng) so với các đối thủ cạnh tranh (DTCT) khác. - Thời gian cạnh tranh: Hoạt động cạnh tranh luôn diễn ra không ngừng va gắn chặt với các hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức. Cạnh tranh đóng vai trò là động lực tăng trưởng kinh tế ở tầm vĩ mô, kích thích phát sinh các nhu cầu mới cũng như cải thiện mức sống của nhân dân.
Không chỉ vậy, cạnh tranh thúc day doanh nghiệp liên tục gia tăng nỗ lực trong việc cung cấp sản phẩm/dịch vụ đa dạng hơn, chất lượng hơn với giá thành rẻ hơn. Do đó, điều mà nhà nước cần làm lúc này không chỉ là tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh cho doanh nghiệp mà còn bảo vệ và nâng cao quyền lợi cho người tiêu dùng nhằm đảm bảo công bằng xã hội, hướng tới hình thái phát triển bền vững. Khái niệm năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Năng lực cạnh tranh Nhắc đến cạnh tranh kinh tế giữa các chủ thé kinh tế thi nang lực cạnh tranh — Competitiveness được sử dụng như một công cụ đánh giá các kết quả, các lợi thế mà hoạt động cạnh tranh đó đem lại.
Năng lực cạnh tranh (NLCT) có thể được hiểu như sau: NLCT là năng lực của các chủ thể kinh tế tạo ra những lợi thé hay điều kiện thuận loi cho các hoạt động kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu đã dé ra một cách có hiệu quả và bên vững. NLCT được nhìn nhận và đánh giá dưới 3 cấp độ: NLCT của quốc gia, NLCT của sản pham/nganh, NLCT của doanh nghiệp. Ba cấp độ này có mối tương quan cùng chiều và tác động qua lại lẫn nhau theo 2 khía cạnh: - Tổng hợp NLCT các doanh nghiệp của một nước cấu thành nên NLCT quốc gia. Nếu doanh nghiệp nội địa liên tục đối mặt với những cản trở và hạn chế cũng như không tao lập được những dé nâng cao NLCT thì NLCT sản pham/nganh và NLCT quốc gia đều thấp.
- NLCT quốc gia quyết định đến khả năng phát triển NLCT của doanh nghiệp. Nỗ lực của quốc gia trong việc tạo dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh thông qua hệ thống pháp luật, điều chỉnh các chính sách kinh tế, ký kết các hiệp định thương mại và cam kết quốc tế quyết định đến NLCT của doanh nghiệp cũng như của sản pham/nganh sẽ được tạo điều kiện dé tăng trưởng hay không. NLCT của doanh nghiệp sẽ bị hạn chế rất nhiều nếu như quốc gia đó hay sản pham/nganh có NLCT không cao. Năng lực cạnh tranh cua doanh nghiệp Dựa vào bản chất của hoạt động cạnh tranh kinh tế và khái niệm NLCT nói chung, ta hiểu NLCT của doanh nghiệp ngắn gọn là thực lực của doanh nghiệp trong việc duy trì và mở rộng thị phần của mình trên thị trường một cách bền vững.
NLCT chính là năng lực và những lợi thế nhất định của doanh nghiệp đó dé tồn tại trên thị trường, đạt được các mục tiêu kinh tế và mục tiêu chiến lược. Bất cứ loại hình doanh nghiệp nao cũng vậy, tôn chi cho mọi hoạt động của họ đều nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận và tối thiêu hóa chỉ phí nhằm thu được nguồn thu nhập tích lũy lớn nhất, tạo tiền đề cho những hoạt động tăng trưởng sau này. Thị phần chính kết quả của chuỗi những hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, sự biến đổi của thị phần doanh nghiệp theo thời gian sẽ phản ánh các hoạt động trên thực sự có hiệu quả một cách lâu dài được không. Một doanh nghiệp được 3 công nhận là có NLCT cao khi không chỉ sở hữu thị phần tương đối lớn so với những doanh nghiệp cạnh tranh khác cùng ngành mà còn có đủ tiềm lực để tiếp tục mở rộng quy mô hơn nữa trong tương lai gần và hứa hẹn đạt trạng thái phát triển bền vững trong tương lai xa.
Rõ ràng, muốn có được NLCT, doanh nghiệp trước tiên phải liên tục giành được từ thị trường những điều kiện tốt cho chính HDSXKD của mình; có đủ tiềm năng dé duy trì những lợi thé tối ưu sau đó nhằm đảm bảo giữ vững được vị thé chiến lược trên thị trường so với các chủ thể cạnh tranh khác. Từ đó cho thấy, NLCT của doanh nghiệp là khái niệm mang bản chất động cho nên kết quả của việc đánh giá NLCT của một doanh nghiệp qua từng thời kỳ và giai đoạn là không giống nhau, nó có thể giảm hoặc tăng tùy thuộc vào hiệu quả của việc duy trì và phát huy những lợi thé của họ. Trong kỷ nguyên kinh tế toàn cầu hóa, tạo dựng NLCT phải xuất phát từ thực lực nội tại trong doanh nghiệp dé giành được những lợi thế cạnh tranh riêng cho mình. Những nhân tố nội hàm này không chỉ đơn giản là khả năng sản xuất đơn thuần mà còn là năng lực về tốc độ áp dụng công nghệ tiến bộ, năng lực tai chính, nguồn nhân lực và văn hóa cốt lõi của công ty.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhận thức đúng đắn và cách thức vận hành thông minh dé có thể tối ưu hóa nguồn lực của mình, đạt được lợi thế nhằm thỏa mãn tốt hơn nữa những nhu cầu của khách hàng mục tiêu đồng thời lôi kéo được đối tượng khách hàng tiềm năng từ các DTCT khác. Tuy nhiên, thực tế cũng chứng minh rằng, không có một doanh nghiệp nao có một hệ thống tô chức và cách thức vận hành hoàn hảo cũng như không có doanh nghiệp nào có đủ năng lực dé đáp ứng hết tat cả những yêu cầu đa dạng từ phía khách hàng của mình. Xuyên suốt cả quá trình, điều vô cùng cần thiết là bản thân doanh nghiệp cần đánh giá đúng được năng lực của doanh nghiệp mình cùng với những điểm mạnh và các hạn chế đang tồn tại thông qua những biểu hiện trong các HDSXKD nhằm tận dụng và phát huy những ưu thé một cách có hiệu quả và lâu dài. Cac tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.
Thương hiệu Thương hiệu là một trong những tài sản mang giá trị cốt lõi của doanh nghiệp. Thương hiệu của doanh nghiệp được hình thành trên cả hai phương diện: hữu hình và vô hình. Thứ nhất, thương hiệu là tập hợp của một hay nhiều dấu hiệu nhận biết trực quan như cái tên, từ ngữ, biểu tượng, hình vẽ nhằm phân biệt một sản pham/dich vụ, một doanh nghiệp nào đó với các DTCT khác. Thứ hai, thương hiệu là hình tượng của một sản pham/dich vụ, một doanh nghiệp nảo đó trong tâm trí công chúng, là cảm nhận của khách hàng thông qua 4 phương diện: mô tả nhận diện, giá tri, thuộc tính và cá tinh.
Mỗi một thương hiệu có 2 tiêu chí chính đề đánh giá sức mạnh của nó trên thị trường (không tính các tiêu chí liên quan đến kinh tế): - Hệ thống nhận diện thương hiệu Hệ thống nhận diện của một thương hiệu là tất cả các cách thức truyền bá mà thương hiệu ấy có thể tiếp cận đến khách hàng, bao gồm logo, danh thiếp, các loại ấn phẩm quảng cáo trên phương tiện truyền thông (catalog, tờ rơi, video clip), các vật phẩm (áo, mũ, túi xách, bao bì) cùng các hoạt động truyền thông khác. Một thương hiệu mạnh luôn sở hữu hệ thống nhận diện có tính đồng bộ và độ phủ sóng cao đến toàn bộ kênh nhìn và kênh nghe của người tiêu dùng trong cuộc sống hàng ngày. - Luc lượng khách hàng trung thành Lòng trung thành của khách hàng với doanh nghiệp được hình thành từ sự hai lòng, tin tưởng của họ đối với chất lượng sản phâm doanh nghiệp cung cấp trong một khoảng thời gian dài. Chinh phục thành công sự trung thành của khách hàng là một quá trình đòi hỏi thời gian, công sức và đạo đức kinh doanh từ phía doanh nghiệp.
Do đó một thương hiệu mạnh là thương hiệu sở hữu lực lượng khách hàng trung thành đông đảo. Nói chung thương hiệu thể hiện giá trị của doanh nghiệp, cho nên nó được coi là tiêu chí đánh giá NLCT tiên quyết. Một khi thương hiệu thành công và nổi tiếng có thé đưa doanh nghiệp lên đỉnh cao, giúp đạt được những mục tiêu kinh doanh hiệu quả va dé dang. Thương hiệu điều khién thị hiếu và quyết định hành vi người tiêu dùng.
Từ đó mang lại cho doanh nghiệp vô vàn lợi ích kinh tế như nâng cao hiệu quả kinh doanh, gia tăng giá trị hàng hóa/dịch vụ, đem đến lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm mới khi thâm nhập thị trường. Thi phan và khả năng chiếm lĩnh thị trường Thị phần đóng vai trò cốt lõi trong việc định vị doanh nghiệp trên thị trường và đánh giá khả năng chiếm lĩnh trên thị trường về một loại hình sản phẩm/dịch vụ nào đó so với các chủ thể cạnh tranh khác. Một doanh nghiệp sở hữu thị phần càng lớn thì sức ảnh hưởng của doanh nghiệp đó tới thị trường càng nhiều. Thị phần của một doanh nghiệp được xác định băng tỷ lệ phần trăm thị trường tiêu thụ sản 5 phẩm/dịch vụ mà doanh nghiệp sở hữu.
Qua từng giai đoạn, thời kỳ hay các biến đổi của thị trường thì tỷ lệ ấy lại có sự thay đôi khác nhau.