CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE VE KINH DOANH XĂNG DAU VA HIEU QUA KINH DOANH XANG DAU O CAC DOANH NGHIEP KINH DOANH XANG DAU 1. XĂNG DAU VA ĐẶC DIEM KINH DOANH XĂNG DAU 1. Quan niệm về xăng Xăng là một hợp chất màu hơi vàng, một sản phâm của dau khí có nguồn gốc từ chất lỏng hỗn hợp mà chủ yêu được sử dụng như một nhiên liệu trong động cơ đốt trong. Xăng, hay còn gọi là ét-xăng (phiên âm từ tiếng pháp: essence), là một loại dung dịch nhẹ chứa Hyđrocacbon, dé bay hoi, dé bốc cháy, cất từ đầu mỏ.
Nó cũng được sử dụng như một dung môi, chủ yếu được biết đến với khả năng pha loãng sơn. Xăng được chế biến từ dầu mỏ bằng phương pháp chưng cất trực tiếp và Cracking, có ty trọng d15= từ 0.75, dễ bay hơi, dễ cháy, có mùi đặc trưng, nhiệt độ sôi từ 35-200°C. Nó bao gồm chủ yếu là hydrocacbon, tăng cường với iso-octane hoặc hydrocarbon thom, toluene va benzen tăng chỉ số octan. Một lượng nhỏ của chất phụ gia khác nhau là phổ biến, cho các mục đích như điều chỉnh hiệu suất động cơ, giảm khí thải độc hại phát thải.
Một số hỗn hợp cũng chứa một lượng đáng kể của ethanol như là một phần nhiên liệu thay thế. Nó không phải là một thực thể khí nhiên liệu (được lưu giữ dưới áp lực như là một chất lỏng, nhưng trở lại trạng thái khí trước khi đốt cháy). Xăng là chất gây ung thư, bởi vì điều này đặt ra một mối de dọa cho sức khỏe của công chúng và môi trường. Xăng dầu cũng phản ứng nguy hiểm với một số hóa chất thông thường.
%* Đặc điểm của xăng Xăng dau là chất lỏng dé bay hoi, bắt cháy ở nhiệt độ thấp ( 39°). Hơi xăng nặng hơn không khí nên có thé đọng lại ở chỗ tring, bụi, chỗ khuất gây nguy hiém. Xăng dau có tốc độ cháy nhanh chóng lan, khi cháy tạo ra nguồn nhiệt rất lớn (max = 1200kacl/kg) Xăng dầu nhẹ hơn nước, nỗi lên trên mặt nước, do vậy có thể cháy lan làm cho việc chữa cháy rất khó khăn. Xăng dầu là chất lỏng độc hại gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người và môi trường xung quanh như qua đường hô hap, tiếp xúc.
Xăng dầu có khả năng tĩnh điện và bốc cháy, do vậy khi bảo quản và vận chuyển nên rất thận trọng, tránh hiện tượng tĩnh điện. Quan niệm về dầu nhờn Dầu nhờn là loại dau dùng dé bôi trơn cho các động cơ. Dầu nhờn là hỗn hợp bao gồm dầu gốc và phụ gia, hay người ta thường gọi là đầu nhờn thương phẩm. Phụ gia thêm vào với mục đích là giúp cho dầu nhờn thương phẩm có được những tính chất phù hợp với chỉ tiêu đề ra mà dầu gốc không có được.
+ Thanh phan của dầu nhờn bao gồm: s* Dau gốc Dầu gốc là dau thu được sau quá trình chế biến, xử lý tong hợp bằng các qua trình xử lý vật lý và hóa học. Dầu gốc thông thường gồm có ba loại là: dầu thực vật, dầu khoáng và dầu tông hợp. Dầu thực vật chỉ dùng trong một số trường hợp đặc biệt. Nó chủ yếu là phối trộn với dầu khoáng hoặc dầu tổng hợp để đạt được một số chức năng nhất định.
Nhưng ngày nay người ta thường sử dụng dầu khoáng hay dầu tổng hợp là chủ yếu. Với tinh chất ưu việt như giá thành rẻ, sản pham đa dang và phong phú, dau khoáng đã chiếm một vị trí quan trọng trong lĩnh vực sản xuất dầu nhờn, nhưng dầu tông hợp cũng được quan tâm nhiều bởi tính chất ưu việt của nó. s* Dâu gốc khoáng Trước đây, thông thường người ta dùng phân đoạn cặn mazut là nguyên liệu chính dé sản xuất dầu nhờn gốc. Nhưng về sau này khi ngành công nghiệp nặng và chế tạo máy móc phát triển, đòi hỏi lượng dầu nhờn ngày càng cao và chủng loại ngày càng phong phú cũng như tiêu chuẩn về chất lượng ngày càng cao, nên người ta đã nghiên cứu tận dụng phần cặn của quá trình chưng cất chân không, có tên gọi là cặn gudron làm nguyên liệu để sản xuất dầu nhờn gốc có độ nhớt cao.
Tóm lại nguyên liệu chính để sản xuất dầu nhờn gốc là cặn mazut và gudron. s* Can Mazut Mazut là phan cặn của quá trình chưng cat khí quyền có nhiệt độ sôi cao hơn 350°C. Phan cặn này có thé đem đi đốt hoặc làm nguyên liệu dé sản xuất dau nhờn gốc. Đề sản xuất dầu nhờn gốc người ta đem mazut chưng cất chân không thu được phân đoạn có nhiệt độ sôi khác nhau.
Phân đoạn dầu nhờn nhẹ có nhiệt độ sôi từ 300°C - 350°C. Phân đoạn dầu nhờn trung bình có nhiệt độ từ 350°C - 420°C. Phân đoạn dầu nhờn nặng có nhiệt độ từ 420°C - 500°C. Thành phần của các phân đoạn này gồm những phân tử hydrocacbon có số cacbon từ C21-40, những hydrocacbon trong phân đoạn này có trọng lượng phân tử lớn ( 1000 — 10000), cau trúc phức tap.
s* Cặn gudron Cặn gudron là phần cặn còn lại của quá trình chưng cất chân không, có nhiệt độ sôi trên 500°C. Trong phần này tập trung các cấu tử có số nguyên tử cacbon từ C41 trở lên, thậm chí có cả C80, có trọng lượng phan tử lớn, có cau trúc phức tạp. Do đó người ta không chia thành phần của phân đoạn này theo từng hợp chất riêng biệt mà người ta phân làm ba nhóm như sau: Nhóm chất dầu bao gồm các hydrocacbon có phân tử lượng lớn, tập trung nhiều các hợp chất thơm có độ ngưng tụ cao, cấu trúc hỗn hợp nhiều vòng giữa hydrocacbon thơm và napten, đây là nhóm chất nhẹ nhất có tỷ trọng xap xi bằng 1. Nhóm chat này hòa tan được các dung môi nhẹ như paraffin và xăng, nhưng người ta không thể tách nó bằng các chất như silicagen hay là than hoạt tính vì đây là những hợp chất không có cực.
Trong phân đoạn cặn gudron, nhóm dầu chiếm khoảng 45 — 46%. Nhóm nhựa hòa tan được trong các dung môi như nhóm dầu nhưng nó là hợp chất có cực nên có thể tách ra bằng các chất như than hoạt tính hay silicagen. Nhóm chất nhựa gồm hai thành phan là các chất trung tính và axit. Các chất trung tính có màu nâu hoặc đen, nhiệt độ hóa mềm nhỏ hơn 100°C, tỷ trọng lớn hơn 1, dé dang hòa tan trong xăng, naphta.
Chất trung tính tạo cho nhựa có tính déo dai và tính kết dính. Hàm lượng của nó ảnh hưởng trực tiếp đến độ kéo dài của nhựa, chiếm khoảng 10 — 15% khối lượng cặn gudron. Các chất axit là chất có nhóm-COOH, màu nâu sam, ty trọng lớn hơn 1, dé dàng hòa tan trong clorofom và rượu etylic, chất axit tạo cho nhựa có tính hoạt động bề mặt, chiếm 1% trong cặn dầu mỏ. Nhóm asphanten là nhóm chất ran màu den, cấu tạo tinh thé, tỷ trọng lớn hơn 1, chứa hầu hết hợp chất di vòng có khả năng hòa tan mạnh trong cacbon disunfua (CS2), nhưng không hòa tan trong các dung môi nhẹ như parafin hay xăng, ở 300°C không bị nóng chảy mà bị cháy thành tro.
Trong quá trình thì nhóm dầu, nhựa, asphanten ton tại ở trạng thái hệ keo, trong đó nhóm nhựa tan trong dầu tạo thành một dung dịch thật sự, người ta gọi là môi trường phân tán. Asphanten không tan trong nhóm dau nên tổn tại ở trạng thái pha phân tán. Ngoài ba nhóm chất trên, trong cặn gudron còn tồn tại các hợp chất cơ kim của kim loại nặng, các hợp chất cacbon, cacboit, các hợp chất này không tan trong các dung môi thông thường, chỉ tan trong pyridine. s* Dau nhờn tổng hợp Dầu nhờn sản xuất từ đầu mỏ vẫn chiếm ưu thế do nó có những ưu điểm như: công nghệ sản xuất dầu đơn giản, giá thành rẻ.
Nhưng ngày nay, để đáp ứng yêu cầu cao của dầu nhờn bôi trơn, người ta bắt đầu quan tâm đến dầu tổng hợp nhiều hơn. Dầu tổng hợp là dầu được tạo ra bằng các phản ứng hóa học từ những hợp chất ban đầu, do đó nó có những tính chất được định ra trước. Nó có thê có những tính chất tốt nhất của dầu khoáng, bên cạnh nó còn có các tính chất khác đặc trưng như là: không cháy, không hòa tan lẫn trong nước. Ưu điểm của dầu tổng hợp là có khoảng nhiệt độ hoạt động rộng từ -55°C đến 320°C, có độ bền nhiệt lớn, có nhiệt độ đông đặc thấp, chỉ số độ nhớt cao.
Chính những ưu điểm này mà dầu tổng hợp ngày càng được sử dụng nhiều, nhất là trong các động co phản lực. Có hai phương pháp chính dé phân loại dầu nhờn tổng hợp: Phương pháp I: Dựa vào một số tính chất đặc thù để phân loại như: độ nhớt, khối lượng riêng. Phương pháp 2: Dựa vào bản chất của chúng. Theo phương pháp 2 người ta chia dầu tổng hợp thành những loại chính sau: hydrocacbon tổng hợp, este hữu cơ, poly glycol và este photphat.
Bốn hợp chất chính này chiếm trên 40% lượng dầu tổng hợp tiêu thụ trên thực tế. “+ Phụ gia cho dau nhờn Dầu nhờn thương phẩm đề sử dụng cho mục đích bôi trơn là hỗn hợp của dầu gốc và phụ gia. Do đó, chất lượng của dầu bôi trơn ngoài sự phụ thuộc rất nhiều vào dầu gốc, nó còn phụ thuộc vào phụ gia. Phụ gia là những hợp chất hữu cơ, vô cơ, thậm chí là những nguyên tô hóa học được thêm vào chất bôi trơn, nhằm nâng cao hay mang lại những tính chất mong muốn.
Thông thường, hàm lượng phụ gia đưa vào là 0,01 — 5%, trong một số trường hợp phụ gia được dùng từ vài phần triệu cho đến vài phần trăm. Do là những hợp chất hoạt động, vì vậy khi ton tại trong dầu phụ gia có thé tac dụng với nhau và làm mat chức năng của dầu nhờn. Ngược lại, chúng cũng có thê tác động tương hỗ với nhau tạo ra một tính chất mới có lợi cho dầu nhờn, do đó việc phối trộn các phụ gia cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng đề loại trừ những hiệu ứng đối kháng và nâng cao tính tác động tương hỗ. Sự tác động tương hỗ giữa phụ gia và dầu gốc cũng là một yếu tố cần được quan tâm khi sản xuất dầu nhờn.
Ngày nay, để đạt được các tính năng bôi trơn thì dầu có chứa nhiều phụ gia khác nhau. Chúng có thể được pha riêng lẻ vào dầu nhờn hoặc phối trộn lại với nhau dé tạo thành một phụ gia đóng gói rồi mới đưa vào dầu nhờn. Yêu cầu chung của một loại phụ gia: Dé hòa tan trong dau. Không hoặc it hòa tan trong nước.
Không ảnh hưởng đến tốc độ nhũ hóa của dầu. Không bị phân hủy bởi nước va kim loại.